Nghiên Cứu Tác Phẩm Hồ Thượng Thư Gia Lễ Trong Luận Án Tiến Sĩ Hán Nôm

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu tác phẩm hồ thượng thư gia lễ, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho ngành.

Chuyên ngành

Hán Nôm

Tác giả

Vũ Việt Bằng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

174
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Khái niệm “gia lễ”

1.2. Tình hình nghiên cứu gia lễ Việt Nam

1.3. Nghiên cứu hiện thực gia lễ

1.4. Gia lễ là đối tượng nghiên cứu độc lập

1.5. Gia lễ là thành phần trong phong tục tập quán

1.6. Phiên dịch tác phẩm gia lễ Hán Nôm sang chữ Quốc ngữ

1.7. Nghiên cứu có liên quan đến Hồ Thượng thư gia lễ

1.8. Nghiên cứu tác giả Hồ Sĩ Dương

1.9. Nghiên cứu tác phẩm Hồ Thượng thư gia lễ

1.10. Một số nhận xét về nghiên cứu gia lễ và Hồ Thượng thư gia lễ

1.11. Định hướng nghiên cứu của đề tài luận án

2. CHƯƠNG 2: TÁC GIẢ VÀ VĂN BẢN TÁC PHẨM HỒ THƯỢNG THƯ GIA LỄ

2.1. Tác giả Hồ Sĩ Dương (1622 – 1682)

2.2. Thi đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1652)

2.3. Làm quan Thượng thư

2.4. Trước tác văn học, lịch sử, văn hóa

2.5. Một số nhận xét chung về tác giả Hồ Sĩ Dương

2.6. Tác phẩm Hồ Thượng thư gia lễ

2.7. Quá trình hình thành tác phẩm

2.8. Ý tưởng biên soạn gia lễ vào sau năm 1638

2.9. Hoàn thành tác phẩm gia lễ vào sau năm 1676

2.10. Nhan đề riêng “Gia lễ Quốc ngữ quyển chi Thượng” và “Gia lễ vấn đáp quyển chi Hạ”

2.11. Nhan đề chung “Hồ Thượng thư gia lễ”

2.12. Văn bản Hồ Thượng thư gia lễ

2.13. Khảo tả văn bản. Bản khắc in Vĩnh Hựu thứ 5 (1739), AB

2.14. Bản khắc in Vĩnh Hựu thứ 5 (1739), lưu tại Quỳnh Đôi

2.15. Bản khắc in Cảnh Hưng thứ 28 (1767), AB

2.16. Bản tuyển tập, kí hiệu A

2.17. Khảo dị và xác định thiện bản

2.18. Đặc điểm bản khắc in xã hội hóa Vĩnh Hựu và Cảnh Hưng

2.19. Hình thức văn bản

2.20. Kết cấu “Quốc ngữ giải” và lời tựa của Chu Bá Đang

2.21. Kết cấu “Gia lễ Quốc ngữ quyển chi Thượng”

2.22. Kết cấu “Gia lễ vấn đáp quyển chi Hạ”

3. CHƯƠNG 3: HỒ THƯỢNG THƯ GIA LỄ TRONG SỰ HÌNH THÀNH THƯ TỊCH GIA LỄ VIỆT NAM

3.1. Hệ thống thư tịch gia lễ Việt Nam

3.2. Giới thiệu nội dung Hồ Thượng thư gia lễ

3.3. Gia lễ Quốc ngữ quyển chi Thượng (Gia lễ Quốc ngữ)

3.4. Mục đích “báo hiếu” và “cho kẻ hậu học dễ xem”

3.5. Biên soạn nghi tiết tang tế bằng chữ Nôm

3.6. Gia lễ vấn đáp quyển chi Hạ (Gia lễ vấn đáp)

3.7. Mục đích “Dẫn viện chứng cứ”

3.8. Hình thành tác phẩm luận giải nghi tiết tang tế

3.9. Tính kế thừa và khởi phát của Hồ Thượng thư gia lễ

3.10. Từ Gia lễ tiệp kính đến Hồ Thượng thư gia lễ

3.11. Gia lễ tiệp kính hướng dẫn thực hành chế độ tang phục

3.12. Gia lễ Quốc ngữ hướng dẫn thực hành nghi tiết

3.13. Từ Hồ Thượng thư gia lễ đến hệ thống thư tịch gia lễ

3.14. Từ Gia lễ Quốc ngữ đến thư tịch hướng dẫn thực hành gia lễ

3.15. Từ Gia lễ vấn đáp đến thư tịch lý luận nghi tiết gia lễ

4. CHƯƠNG 4: HỒ THƯỢNG THƯ GIA LỄ TRONG SỰ TIẾP BIẾN GIA LỄ NHO GIÁO Ở VIỆT NAM

4.1. Hồ Thượng thư gia lễ và thực tiễn gia lễ trước thế kỷ XX

4.2. Trước khi Hồ Thượng thư gia lễ ra đời

4.3. Gia lễ tập tục trước thời Lý

4.4. Gia lễ Phật giáo thời Lý - Trần

4.5. Pháp định gia lễ Nho giáo thời Lê sơ

4.6. Sau khi Hồ Thượng thư gia lễ ra đời

4.7. Gia lễ Nho giáo thời Lê Trung hưng

4.8. Gia lễ Nho giáo cuối thời Lê Trung hưng đến cuối thời Nguyễn

4.9. Tiếp biến gia lễ Nho giáo nhìn từ Gia lễ Quốc ngữ

4.10. Văn bản gia lễ Trung Quốc ở Việt Nam

4.11. Văn Công gia lễ của Chu Hy

4.12. Văn Công gia lễ nghi tiết của Khâu Tuấn, Dương Thận

4.13. Tiếp biến Văn Công gia lễ nghi tiết trong Gia lễ Quốc ngữ

4.14. Phi mô phỏng cấu trúc tác phẩm

4.15. Mô phỏng bộ phận chế độ nghi tiết

4.16. Tiếp biến gia lễ Nho giáo nhìn từ Gia lễ vấn đáp

4.17. Điều kiện kinh tế và xã hội của người Việt

4.18. Nhận thức văn hóa gia lễ của người Việt

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Thuật ngữ gia lễ xuất hiện trong Hồ Thượng thư gia lễ

Phụ lục 2: Văn bản Hồ Thượng thư gia lễ, kí hiệu AB.592, Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên Cứu Tác Phẩm Hồ Thượng Thư Gia Lễ

Nghiên cứu tác phẩm Hồ Thượng Thư Gia Lễ là một lĩnh vực quan trọng trong văn học Hán Nôm Việt Nam. Tác phẩm này không chỉ phản ánh những giá trị văn hóa, lịch sử mà còn là tài liệu quý giá cho việc nghiên cứu gia lễ Việt Nam. Luận án Tiến sĩ Hán Nôm của Vũ Việt Bằng đã chỉ ra rằng tác phẩm này có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển hệ thống gia lễ Nho giáo tại Việt Nam.

1.1. Ý nghĩa của tác phẩm Hồ Thượng Thư Gia Lễ

Tác phẩm Hồ Thượng Thư Gia Lễ mang lại cái nhìn sâu sắc về gia lễ trong bối cảnh văn hóa Nho giáo. Nó không chỉ là một tài liệu hướng dẫn mà còn là một tác phẩm văn học có giá trị lịch sử.

1.2. Lịch sử hình thành tác phẩm

Tác phẩm được hoàn thành vào cuối thế kỷ XVII, trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ. Hồ Sĩ Dương đã khéo léo kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong tác phẩm của mình.

II. Vấn đề và Thách thức trong Nghiên Cứu Gia Lễ

Nghiên cứu gia lễ Việt Nam gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc xác định khái niệm và lịch sử gia lễ. Các nhà nghiên cứu cần phải đối mặt với sự đa dạng và phức tạp của các yếu tố văn hóa, xã hội và lịch sử. Việc phân tích tác phẩm Hồ Thượng Thư Gia Lễ giúp làm rõ những vấn đề này.

2.1. Khó khăn trong việc xác định khái niệm gia lễ

Khái niệm gia lễ không chỉ đơn thuần là các nghi thức mà còn bao gồm các giá trị văn hóa sâu sắc. Việc định nghĩa rõ ràng khái niệm này là rất cần thiết cho nghiên cứu.

2.2. Tác động của văn hóa ngoại lai

Sự giao thoa văn hóa giữa Việt Nam và các nền văn hóa khác đã tạo ra những thách thức trong việc bảo tồn và phát triển gia lễ truyền thống. Tác phẩm Hồ Thượng Thư Gia Lễ là một ví dụ điển hình cho sự tiếp biến này.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tác Phẩm Hồ Thượng Thư Gia Lễ

Để nghiên cứu tác phẩm Hồ Thượng Thư Gia Lễ, các phương pháp văn bản học và nghiên cứu liên ngành được áp dụng. Những phương pháp này giúp làm rõ giá trị văn bản và nội dung của tác phẩm trong bối cảnh lịch sử và văn hóa.

3.1. Phương pháp văn bản học

Phương pháp này tập trung vào việc phân tích cấu trúc và nội dung của tác phẩm, từ đó xác định giá trị và ý nghĩa của nó trong lịch sử gia lễ Việt Nam.

3.2. Nghiên cứu liên ngành

Nghiên cứu liên ngành giúp kết nối các yếu tố văn hóa, lịch sử và xã hội, từ đó tạo ra cái nhìn toàn diện về tác phẩm và vai trò của nó trong gia lễ Việt Nam.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn của Nghiên Cứu Tác Phẩm

Nghiên cứu tác phẩm Hồ Thượng Thư Gia Lễ không chỉ có giá trị lý luận mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc xây dựng và phát triển văn hóa gia lễ hiện đại. Tác phẩm này cung cấp những hướng dẫn cụ thể cho việc thực hành gia lễ trong bối cảnh hiện đại.

4.1. Hướng dẫn thực hành gia lễ

Tác phẩm cung cấp những hướng dẫn chi tiết về các nghi thức gia lễ, giúp người dân hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và lịch sử của gia lễ Việt Nam.

4.2. Tác động đến đời sống văn hóa

Nghiên cứu tác phẩm có thể giúp nâng cao nhận thức về giá trị gia lễ trong đời sống văn hóa hiện đại, từ đó góp phần bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống.

V. Kết Luận và Tương Lai của Nghiên Cứu Gia Lễ

Nghiên cứu tác phẩm Hồ Thượng Thư Gia Lễ mở ra nhiều hướng đi mới cho nghiên cứu gia lễ Việt Nam. Tác phẩm không chỉ là tài liệu quý giá mà còn là nguồn cảm hứng cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu gia lễ

Nghiên cứu gia lễ giúp bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tạo ra nền tảng cho sự phát triển văn hóa hiện đại.

5.2. Hướng nghiên cứu tương lai

Cần tiếp tục khai thác sâu hơn về tác phẩm và các tác phẩm gia lễ khác để làm rõ hơn về lịch sử và văn hóa gia lễ Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác phẩm hồ thượng thư gia lễ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Gia lễ là từ chỉ hoạt động lễ nghi thực hành trong phạm vi gia đình dòng họ với nhiều loại lễ nghi thành phần. Nghiên cứu gia lễ là một phần trong lễ học, là học thuật có tính độc lập nhưng vẫn có mối liên hệ giao thoa với học thuật khác như tôn giáo, chính trị,… Nghiên cứu gia lễ Việt Nam ở hai khía cạnh hiện thực gia lễ và thư tịch gia lễ đã đạt được thành tựu khác nhau tùy thuộc bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa và phương pháp nghiên cứu trong từng giai đoạn lịch sử. Trong chương này, trên cơ sở tập hợp nghiên cứu liên quan gia lễ và Hồ Thượng thư gia lễ công bố trên nhiều loại hình, tác giả luận án tiến hành phân loại, phân tích tổng quan nghiên cứu gia lễ Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay, từ đó xác định phương hướng nghiên cứu của luận án. Khái niệm “gia lễ” “Gia lễ” là từ Hán Việt xuất hiện trong nhiều bộ từ điển tiếng Việt với ý nghĩa từ vựng “nghi lễ trong gia đình, gia tộc”.

Trong hệ thống từ điển Hán ngữ, bộ từ điển uy tín như Từ hải 辭海 không xuất hiện mã từ “gia lễ”. Trường hợp sách Từ nguyên 辭源 có mã từ “gia lễ”, nhưng không nêu ý nghĩa từ vựng, chỉ cho biết đây là tên của một cuốn sách: 家禮舊題宋朱熹撰五卷附錄一卷此書記冠婚喪祭等封建禮節 [辭源, 1998, tr.840] “Gia lễ cựu đề, Tống Chu Hy soạn, ngũ quyển, phụ lục nhất quyển, thử thư kí quan hôn tang tế đẳng phong kiến lễ tiết” (Gia lễ là nhan đề cũ của một cuốn sách, Chu Hy đời Tống soạn, gồm năm quyển, phụ lục một quyển, ghi lại các nghi tiết phong kiến như quan hôn tang tế”). Trong tư liệu Hán văn Trung Quốc, từ “gia lễ” xuất hiện đầu tiên trong thiên “Xuân quan” 春官 sách Chu lễ 周禮: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 家宗人掌家禮與其衣服宮室車旗之禁令 [dẫn theo: 杨天宇, 2004, tr.396] “Gia tông nhân chưởng gia lễ dữ kì y phục, cung thất, xa kì chi cấm lệnh” (“Gia tông nhân lo việc gia lễ, cùng với cấm lệnh về y phục, cung thất, cờ xe”). Theo Trịnh Huyền 鄭玄 (127 – 200) người chú giải Chu lễ trong Chu lễ chú sớ 周禮註疏 cho biết, “gia” chỉ thái ấp của quan Đại phu 大夫采地.

Theo đó, “gia lễ” trong sách Chu lễ là từ chỉ nghi lễ trong thái ấp quan Đại phu, nghĩa là không nói đến nghi lễ trong gia đình tầng lớp bình dân. Năm 1191, Chu Hy biên soạn Nghi lễ kinh truyện thông giải 儀禮經傳通解, trong đó có phần viết về gia lễ, dự định sẽ viết thành bộ lễ nghi dùng trong gia đình tầng lớp sĩ thứ. Theo đó, thời điểm thế kỷ XII, từ “gia lễ” mới bắt đầu mang hàm nghĩa “nghi lễ trong gia đình”. Trong Hán văn Việt Nam, từ “gia lễ” xuất hiện trong An Nam chí lược 安南志略 (ra đời năm 1333)1, quyển nhất, mục “Phong tục” 風俗: 正旦五更王坐永壽殿 […] 宗子臣僚分斑拜賀二日臣僚各行家禮 “Chính đán ngũ canh, vương tọa Vĩnh Thọ điện, […] tông tử thần liêu phân ban bái hạ […].

Nhị nhật thần liêu các hành gia lễ” (dịch nghĩa: “Canh năm nguyên đán, nhà vua ngự ở điện Vĩnh Thọ […] tông tử và các quan lần lượt chúc mừng. Ngày mồng hai, các quan về nhà cử hành gia lễ”. Theo đó, trong ngôn ngữ Hán Việt, “gia lễ” mang hàm nghĩa “nghi lễ trong gia đình” từ trước thế kỉ XIV. Tại thời điểm này, “gia lễ” chưa được cụ thể hóa thành bốn nghi lễ thành phần như quy định trong sách Gia lễ của Chu Hy.

Thêm nữa, Lê Trắc sử dụng từ “gia lễ” với hàm nghĩa “nghi lễ gia đình” để phân biệt với “quốc lễ” là “nghi lễ trong triều”, phân biệt giữa một bên là nghi lễ trong quan hệ gia đình, gia tộc và một bên là nghi lễ trong quan hệ triều chính. Sau thế kỉ XV, khi sách Gia lễ lưu hành ở Việt Nam, từ “gia lễ” với hàm nghĩa quan hôn tang tế mới được nhà Nho Việt Nam tiếp nhận. Từ đó về sau, từ “gia lễ” được nhà Nho Việt Nam mặc nhận là từ chỉ quan lễ, hôn lễ, tang lễ, tế lễ: 1 An Nam chí lược, A. Đây là bản An Nam chí lược 安南志略 soạn năm Nguyên Thống thứ nhất (1333).

Ngạn Ngâm Hương (Nhật Bản) biên tập năm Giáp Thân, Minh Trị thứ 17 (1884) bản Lạc Thiện đường (Thượng Hải ấn hành). 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Xưa tiên hiền chế định lễ nghi, quan lễ, hôn lễ, tang lễ, tế lễ chẳng có gì không đầy đủ”2; “Lễ là hình thức văn sức của lí trời, là chuẩn tắc của việc người, bốn lễ quan, hôn, tang, tế luôn được coi trọng trong nhân đạo”3; “Lễ có ba trăm ba nghìn, bốn lễ quan, hôn, tang, tế là thứ quan trọng nhất của lễ”4. Thế kỉ XX, một số từ điển ở Việt Nam5 đều thống nhất cho rằng, gia lễ là từ chỉ nghi lễ gia đình bao gồm quan lễ, hôn lễ, tang lễ, tế lễ. Đào Duy Anh giải thích thêm, “gia lễ […] bộ sách chép các lễ Quan, Hôn, Tang, Tế” [Đào Duy Anh, 2004, tr.317], ý kiến này tương đồng sách Từ nguyên.

Như vậy xét về nội hàm ý nghĩa từ vựng, từ “gia lễ” vốn xuất hiện trong sách Chu lễ, để chỉ “nghi lễ trong thái ấp quan đại phu”. Trong ngôn ngữ Việt, từ “gia lễ” ban đầu chỉ để biểu thị ý các hoạt động nghi lễ gia đình nói chung và đến thế kỉ XV, từ “gia lễ” mới được mặc nhận hàm nghĩa nghi lễ gia đình/gia tộc bao gồm quan lễ, hôn lễ, tang lễ, tế lễ. Tuy nhiên, xét ở phạm vi nghiên cứu, gia lễ là đối tượng nghiên cứu với hai khía cạnh cơ bản: một là hiện thực gia lễ, chỉ các hoạt động thực hành lễ nghi trong gia đình dòng họ; hai là văn hiến gia lễ, chỉ thư tịch ghi chép về gia lễ. Gia lễ gồm nhiều loại nghi lễ thành phần, nhưng mỗi nghi lễ thành phần đều có tính độc lập tương đối và đều có thể trở thành đối tượng nghiên cứu độc lập.

Vì vậy, trên bình diện thư tịch, sách gia lễ Việt Nam mặc dù được soạn thảo trên cơ sở bốn lễ nghi thành phần nhưng không nhất thiết phải đầy đủ bốn loại nghi lễ mà có thể chỉ là một, hai hoặc ba nghi lễ. Trong phạm vi không gian dòng họ, gia lễ còn có quan hệ mật thiết với gia huấn, gia quy, tộc ước vì cùng là công cụ “lập thân xử thế” 立身處世, “trị gia giáo tử” 治家 教子, mục đích kéo dài sinh mệnh dòng họ. Chính vì thế, thư tịch gia lễ và gia huấn, 2 Dịch từ: Thọ Mai gia lễ, VHv.108, “Thọ Mai gia lễ tự”. 3 Dịch từ: Tứ lễ lược tập, A.1016, “Tứ lễ trích tập tự”.

4 Dịch từ: Tứ lễ lược tập, A,1016, “Tứ lễ lược tập tự”. 5 Một số từ điển định nghĩa “gia lễ” như: Nguyễn Lân: Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1989, tr.254; Nguyễn Như Ý: Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá Thông tin, 1999, tr. 720; Đào Duy Anh: Hán Việt từ điển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gia quy có nhiều nội dung tương đồng, trong thư tịch gia quy, gia huấn có gia lễ và ngược lại.

Theo đó, nhìn từ nhiều khía cạnh, nội hàm và các mối quan hệ của gia lễ được mô hình hóa trong hình sau đây. Trong đó, gia lễ và gia huấn thông thường có phần giao thoa, gia lễ có phần gia huấn, gia huấn có phần gia lễ. Trong phạm vi gia lễ bao gồm thông lễ và quan, hôn, tang, tế. Xét riêng ở góc nhìn thư tịch, những thư tịch chỉ viết về ba hoặc bốn nghi lễ thành phần thì có thể có nhan đề là tam lễ, tứ lễ.

Theo đó, tam lễ, tứ lễ nằm trong phạm vi gia lễ. Tuy vậy, nếu xét ở phạm vi gia lễ Việt Nam, hay thư tịch gia lễ Việt Nam nói riêng, thì khái niệm hay nội hàm gia lễ cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng hơn. Đó cũng là một trong những mục đích hướng đến của luận án. Sơ đồ biểu thị nội hàm gia lễ 1.

Tình hình nghiên cứu gia lễ Việt Nam Gia lễ là một mặt biểu hiện sinh động của xã hội, các hoạt động liên quan gia lễ đều không tách rời hoạt động xã hội, đặc biệt là chịu sự ảnh hưởng trực tiếp bởi điều kiện kinh tế. Chính vì vậy, nghiên cứu gia lễ cũng ít nhiều ảnh hưởng bởi đời sống xã hội, trong đó có yếu tố kinh tế. Xuất phát từ thực tế đó, khi phân tích thành tựu nghiên cứu gia lễ từ đầu thế kỷ XX đến nay, chúng tôi phân đoạn theo các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội. Nghiên cứu hiện thực gia lễ 1.

Gia lễ là đối tượng nghiên cứu độc lập Giai đoạn trước năm 1945 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước thế kỷ XX, tư liệu Hán Nôm liên quan gia lễ chủ yếu nêu quan điểm cá nhân người soạn về một hiện tượng gia lễ nhất định, nên chưa mang tính nghiên cứu. Đầu thế kỉ XX, đội ngũ nghiên cứu gia lễ sống vào cuối thể kỉ XIX đầu thế kỷ XX, có lợi thế vừa được tiếp cận di sản văn hóa truyền thống vừa được tiếp nhận phương pháp nghiên cứu khoa học phương Tây nên nghiên cứu di sản truyền thống trong đó có gia lễ đã đạt được thành tựu vượt bậc. Nghiên cứu gia lễ đầu tiên: Le rituel funéraire des annamites (tạm dịch là “Tang lễ của người An Nam”) của học giả Gustave Émile Dumoutier vào năm 1902. Nghiên cứu đầu tiên về gia lễ Việt Nam là ấn phẩm Le rituel Funéraire des annamites của học giả Gustave Émile Dumoutier ấn hành năm 1902.

Gustave Émile Dumoutier sinh năm 1850 tại Courpalay (Pháp), mất năm 1904 tại Đồ Sơn (Việt Nam), là học giả người Pháp có nhiều năm nghiên cứu Việt Nam ở nhiều góc độ: nghiên cứu lịch sử, nhân học, khảo cổ học, văn hóa học, với nhiều ấn phẩm nghiên cứu có giá trị như Les pagodes de Hanoi (Các ngôi chùa ở Hà Nội), Le Grand Bouddha de Hanoi (Bức tượng Phật lớn ở Hà Nội) và Le rituel Funéraire des Annamites (Tang lễ của người An Nam)…6.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ