Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm (mã số: 62 22 01 04) với đề tài "Nghiên cứu tác phẩm 'Hồ Thượng thư gia lễ'" do nghiên cứu sinh Vũ Việt Bằng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trịnh Khắc Mạnh, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Gia lễ Việt Nam biểu thị toàn bộ các hoạt động lễ nghi thực hành trong phạm vi gia đình và dòng họ. Vào cuối thế kỷ XVII, gia lễ trở thành công cụ quan trọng để nhà nước phong kiến thúc đẩy việc nâng cao đạo đức xã hội và hỗ trợ chế định tư pháp Nho giáo. So với các công cụ pháp lệnh văn hóa mang tính áp đặt một chiều từ trên xuống, thư tịch gia lễ đóng vai trò một phương tiện tương tác hai chiều, giúp cộng đồng tiếp nhận các quy chuẩn đạo đức một cách tự giác. Bối cảnh thời Lê Trung hưng đã thúc đẩy sự chuyển biến trong sinh hoạt nghi lễ của người Việt từ mô hình chịu ảnh hưởng của Phật giáo (thời Lý – Trần) sang mô hình quy chuẩn hóa theo Nho giáo (thời Hậu Lê).

Tác phẩm Hồ Thượng thư gia lễ của danh sĩ Hồ Sĩ Dương (1622–1682) giữ vị trí nòng cốt trong tiến trình chuyển biến này, đồng thời tạo tiền đề cho sự hình thành chuỗi tác phẩm gia lễ ở các giai đoạn sau. Mặc dù có vị trí lịch sử quan trọng, trước thời điểm luận án thực hiện, tác phẩm này chủ yếu mới được phiên dịch và khảo sát bước đầu, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện dưới góc độ văn bản học chuyên sâu kết hợp liên ngành để làm rõ giá trị lịch sử, cấu trúc truyền bản và vai trò tiếp biến văn hóa Nho giáo của tác phẩm.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định mục tiêu chung là nghiên cứu văn bản tác phẩm Hồ Thượng thư gia lễ trong tiến trình phát triển của thư tịch gia lễ Việt Nam trên cả hai phương diện: văn bản học và giá trị nội dung, cùng mối liên hệ với các văn bản gia lễ Trung Quốc. Mục tiêu cụ thể được triển khai theo 4 nội dung đánh số:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hiện thực đời sống gia lễ (với tư cách là đối tượng độc lập hoặc thành phần của phong tục) và thư tịch gia lễ; khái quát thành tựu nghiên cứu tác giả Hồ Sĩ Dương và tác phẩm Hồ Thượng thư gia lễ từ đầu thế kỷ XX đến nay nhằm xác lập định hướng nghiên cứu.
  2. Khảo cứu thân thế, sự nghiệp tác giả Hồ Sĩ Dương qua hệ thống tư liệu Hán Nôm; khảo cứu văn bản tác phẩm Hồ Thượng thư gia lễ (hoàn cảnh ra đời, nhan đề, thống kê, phân loại, khảo dị văn bản, phân tích hiện tượng văn bản học để xác định thiện bản và mô tả kết cấu nguyên bản).
  3. Thống kê, phân loại hệ thống tác phẩm gia lễ Việt Nam; phân tích kết cấu nội dung, mục đích của Hồ Thượng thư gia lễ; từ đó xác định vai trò kế thừa di sản đi trước và khởi phát hệ thống trước tác gia lễ đời sau.
  4. Phân kỳ và phân tích các giai đoạn lịch sử gia lễ Việt Nam lấy Hồ Thượng thư gia lễ làm trung tâm; phân tích mối liên hệ liên văn bản (tính phi mô phỏng hoặc mô phỏng bộ phận) giữa thư tịch gia lễ Trung Quốc với Hồ Thượng thư gia lễ; chỉ ra đặc điểm tiếp biến gia lễ Nho giáo tại Việt Nam thời Lê Trung hưng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống văn bản tác phẩm Hồ Thượng thư gia lễ của tác giả Hồ Sĩ Dương.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát tác phẩm trên phương diện văn bản học, đồng thời đánh giá giá trị tác phẩm trong quá trình truyền bản và thực hành gia lễ tại Việt Nam.
  • Phạm vi tư liệu: Toàn bộ các văn bản Hồ Thượng thư gia lễ hiện còn, các văn bản gia lễ Hán Nôm Việt Nam, một số văn bản gia lễ Trung Quốc lưu hành tại Việt Nam cùng hệ thống thư tịch lịch sử, văn bia, gia phả và đăng khoa lục liên quan.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm luận chi tiết tình hình nghiên cứu gia lễ Việt Nam và tác phẩm Hồ Thượng thư gia lễ từ đầu thế kỷ XX đến năm 2018 theo hai hướng tiếp cận chính:

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU GIA LỄ

Các công trình nghiên cứu hiện thực đời sống gia lễ

  • Giai đoạn trước năm 1945:
    • Khởi đầu bằng công trình Le rituel funéraire des annamites (1902) của Gustave Émile Dumoutier, mô tả tang lễ một phụ nữ quý tộc cuối thế kỷ XIX dưới góc nhìn nhân học và ghi nhận dấu ấn Tam giáo.
    • Tác phẩm Việt Nam phong tục (1915) của Phan Kế Bính khảo sát phong tục gia tộc thành 17 mục, tập trung vào tế lễ, tang lễ và hôn lễ.
    • Trên diễn đàn Tạp chí Nam Phong (1922–1934), có 15 bài viết liên quan trực tiếp đến cải cách hương tục và gia lễ: Trần Duy Nhất (1922) với "Cải lương phong tục"; Trần Quán Chi (1922) với "Cái hại tảo hôn phải kíp đem trừ"; Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến với loạt khảo cứu "Hôn lễ" (1924), "Tang lễ I, II, III" (1924–1925), "Khảo về lễ thọ" (1927); Đỗ Thận (1925) với bài diễn thuyết "Quan, Hôn, Tang, Tế"; Thiện Đình (1930) với 5 bài "Nghi lễ phổ thông"; Đồ Nam Nguyễn Trọng Thuật (1934) với "Ta nên cải cách lại lễ nghi như thế nào?".
  • Giai đoạn 1945–1986: Nghiên cứu gia lễ tại miền Bắc trầm lắng do hoàn cảnh chiến tranh. Tại miền Nam xuất hiện các ấn phẩm khảo cứu: Văn Công Thọ Mai gia lễ của Hà Tấn Phát (1961), Nếp cũ - Con người Việt Nam của Toan Ánh (1965), Đất lề quê thói của Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu (1968, in năm 1970).
  • Giai đoạn sau năm 1986: Tác phẩm Gia lễ xưa và nay của Phạm Côn Sơn (1996) tổng hợp tập tục hôn lễ, tang lễ và thờ cúng. Chuyên gia Nhật Bản Shimao Minoru (嶋尾稔) công bố chuỗi nghiên cứu văn bản học về Thọ Mai gia lễ trên Kỷ yếu Đại học Keio (2006–2009) và bài nghiên cứu tổng quan "Confucian Family Ritual and Popular Culture in Vietnam" (2011) trên tập san Toyo Bunko, thảo luận 4 tác phẩm gia lễ lớn của Việt Nam (Tiệp kính gia lễ, Hồ Thượng thư gia lễ, Thọ Mai gia lễ, Văn Công gia lễ tồn chân).

Các nghiên cứu về văn bản và tác giả Hồ Sĩ Dương

  • Về tác giả: Vũ Việt Bằng công bố nghiên cứu thân thế Hồ Sĩ Dương qua tư liệu Hán Nôm trên Thông báo Hán Nôm học (2015) và tạp chí Văn hóa Nghệ An (2015).
  • Về văn bản và dịch thuật: Năm 2018, ấn bản dịch thuật Hồ Thượng thư gia lễ do Trịnh Khắc Mạnh chủ biên, Vũ Việt Bằng và Phạm Thị Hường giới thiệu, dịch chú được Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Nhà xuất bản Văn học ấn hành. Các khóa luận cử nhân, báo cáo tập sự và luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Hà Nội) từ năm 2010 đến 2014 bước đầu khảo sát một số bản khắc in gia lễ liên quan.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào khảo tả hiện thực phong tục hoặc dịch thuật văn bản đơn lẻ, chưa giải quyết thấu đáo lịch sử truyền bản, chưa phân loại và khảo dị toàn diện hệ thống dị bản của Hồ Thượng thư gia lễ, chưa xác lập thiện bản bằng phương pháp văn bản học nghiêm ngặt, và chưa phân tích cấu trúc liên văn bản nhằm chỉ ra quy luật tiếp biến gia lễ Nho giáo giữa Việt Nam và Trung Quốc.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Lý thuyết Văn bản học (Textology / 版本學): Luận án vận dụng định nghĩa và hệ thống thao tác của văn bản học Hán Nôm theo Trịnh Khắc Mạnh (2014), xác định nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu lịch sử văn bản qua các giai đoạn phát triển, khôi phục hoàn cảnh lịch sử cụ thể, xác định tác giả, phân định tính chân ngụy, khảo dị, giám định và xác lập thiện bản làm cơ sở nghiên cứu nội dung.
  2. Lý thuyết Nghiên cứu liên ngành (Interdisciplinary / 跨學科): Kết hợp văn bản học với các tri thức và phương pháp của Sử học (khảo chứng niên đại, sự kiện), Văn hóa học và Dân tục học (nghiên cứu cơ chế tiếp biến nghi lễ trong đời sống làng xã, dòng họ), và Ngôn ngữ - Văn tự học (phân tích ngữ liệu chữ Nôm và Hán văn).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp văn bản học: Thống kê, miêu tả hình thức, phân loại văn bản; khảo dị văn bản theo từng tiêu chí (dòng, chữ, quy cách khắc in); nghiên cứu liên văn bản (intertextuality) để so sánh cấu trúc tác phẩm với các thư tịch gia lễ đồng đại và hậu đại.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phân tích loại hình học tác giả đối với tầng lớp Nho sĩ - quan chức thời Lê Trung hưng; phương pháp lịch sử và phân kỳ lịch sử văn hóa để đặt tác phẩm vào tiến trình chuyển dịch mô hình gia lễ tại Việt Nam.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản trực tiếp: Các bản in và bản chép tay Hồ Thượng thư gia lễ lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và dòng họ Hồ tại Quỳnh Đôi (Nghệ An).
  • Tư liệu lịch sử và khoa bảng: Lịch đại đăng khoa lục (VHv.652), Thiên Nam lịch triều liệt huyện đăng khoa bị khảo (A.485), Đại Việt lịch đại Tiến sĩ khoa thực lục (A.2040), Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (VHv.127).
  • Tư liệu địa chí, gia phả và văn bia: Quỳnh Đôi hương biên (A.1377), Quỳnh Lưu phong thổ kí (VHv.1377), Hồ gia hợp tộc phả kí (A.3076), Hồ gia thế phả (A.1387); các thác bản văn bia Từ đường bi kí (Nº 2818–2821), Nam Giao điện bi kí (Nº 161), Đại Thừa tướng sự nghiệp bi (Nº 27522–27525) tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
  • Thư tịch gia lễ đối sánh: Thư tịch Việt Nam (Gia lễ tiệp kính, Thọ Mai gia lễ, Văn Công gia lễ tồn chân, Tứ lễ lược tập, Tam lễ tập yếu) và thư tịch Trung Quốc (Văn Công gia lễ của Chu Hy, Văn Công gia lễ nghi tiết của Khâu Tuấn và Dương Thận).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương I phân tích nguồn gốc thuật ngữ "gia lễ" và hệ thống hóa toàn bộ lịch sử nghiên cứu đề tài.

  • Nguồn gốc thuật ngữ: Thuật ngữ "gia lễ" xuất hiện lần đầu trong thiên Xuân quan sách Chu lễ (được Trịnh Huyền chú giải là lễ nghi trong thái ấp quan Đại phu). Đến thế kỷ XII, Chu Hy biên soạn Nghi lễ kinh truyện thông giải, khái niệm mới bắt đầu mang nghĩa nghi lễ gia đình tầng lớp sĩ thứ. Trong văn hiến Việt Nam, thuật ngữ này xuất hiện sớm nhất trong sách An Nam chí lược (1333) của Lê Trắc ở mục "Phong tục" ("nhị nhật thần liêu các hành gia lễ" - ngày mồng hai các quan về nhà cử hành gia lễ, nhằm phân biệt với quốc lễ tại triều đình). Từ thế kỷ XV, thuật ngữ được hiểu theo nghĩa hẹp là 4 lễ thành phần: quan, hôn, tang, tế.
  • Thống kê nghiên cứu đầu thế kỷ XX trên Tạp chí Nam Phong:
Nội dung nghiên cứu Số lượng bài viết Tổng số trang công bố
Nghiên cứu gia lễ nói chung 9 86
Nghiên cứu hôn lễ 2 18
Nghiên cứu tang lễ 3 46
Nghiên cứu tế lễ 1 4
Tổng cộng 15 151

Số liệu cho thấy tang lễ chiếm dung lượng lớn nhất trong các nghiên cứu chuyên biệt, phản ánh mối quan tâm trọng tâm của học thuật đương thời đối với thực hành nghi lễ hiếu nghĩa.

Chương II: Tác giả và văn bản tác phẩm Hồ Thượng thư gia lễ

Chương II giải quyết toàn diện thân thế tác giả Hồ Sĩ Dương và các vấn đề văn bản học của tác phẩm.

TIẾN TRÌNH VĂN BẢN HỌC "HỒ THƯỢNG THƯ GIA LỄ"
  • Thân thế tác giả: Hồ Sĩ Dương (1622–1682), tên húy là Hồ Ngọc, tự Khả Trí, quê tại xã Hoàn Hậu (nay là Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An). Đỗ Giải nguyên khoa Ất Dậu (1645) và Tân Mão (1651); đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn (1652); trúng Đông các Đệ nhị danh khoa Vĩnh Thọ thứ 2 (1659). Hoạn lộ trải qua 30 năm dưới 4 triều vua Lê (Thần Tông, Huyền Tông, Gia Tông, Hi Tông), giữ các trọng trách: 4 lần làm Đốc thị quân sự (1660, 1661, 1667, 1670), 5 lần tiếp sứ và đi sứ nhà Thanh (Chánh sứ năm 1673), thăng Thượng thư Bộ Công, tước Duệ Quận công, Giám tu Quốc sử và Tham tụng (1676). Khi mất được truy tặng Thiếu bảo, Thượng thư Bộ Hộ, thụy Dĩnh Đạt.
  • Quá trình hình thành tác phẩm: Ý tưởng biên soạn hình thành sau năm 1638 (khi thân phụ Hồ Hoàng qua đời, tác giả nhận thức sâu sắc về nghi tiết tang tế) và hoàn tất sau năm 1676 (khi hoàn thành nhiệm vụ đi sứ và giữ cương vị Tham tụng).
  • Khảo tả hệ thống văn bản:
    • Bản in năm Vĩnh Hựu thứ 5 (1739), ký hiệu AB.592 lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
    • Bản in năm Vĩnh Hựu thứ 5 (1739) lưu trữ tại dòng họ Hồ ở xã Quỳnh Đôi.
    • Bản in năm Cảnh Hưng thứ 28 (1767), ký hiệu AB.363 lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
    • Bản tuyển tập, ký hiệu A.1016 lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
  • Khảo dị và xác định thiện bản: Qua đối sánh các sai biệt về mặt chữ, dòng kẻ, lời tựa của Chu Bá Đang và hiện tượng khắc in xã hội hóa tại các phường sách tư nhân, luận án xác định bản in Vĩnh Hựu thứ 5 (1739) mang ký hiệu AB.592 là thiện bản có giá trị văn bản học cao nhất.

Chương III: Hồ Thượng thư gia lễ trong sự hình thành thư tịch gia lễ Việt Nam

Chương III phân tích cấu trúc văn bản tác phẩm và vị trí của tác phẩm trong dòng chảy thư tịch Hán Nôm:

Phần tác phẩm Văn tự sử dụng Mục đích biên soạn Nội dung cốt lõi
Gia lễ Quốc ngữ quyển chi Thượng Chữ Nôm (Quốc âm) "Báo hiếu" và "cho kẻ hậu học dễ xem" Hướng dẫn thực hành chi tiết toàn bộ các nghi thức tang lễ và tế lễ; quy định tang phục theo trật tự thân sơ gần gũi với tập tục Việt Nam.
Gia lễ vấn đáp quyển chi Hạ Chữ Hán "Dẫn viện chứng cứ" Luận giải học thuật, trích dẫn kinh điển Nho gia và điển lệ lịch sử để biện giải tính hợp lý của từng nghi tiết tang tế.
  • Tính kế thừa và khởi phát:
    • So với Gia lễ tiệp kính thời kỳ trước vốn chỉ tập trung hướng dẫn chế độ tang phục thuần túy, Gia lễ Quốc ngữ mở rộng sang hướng dẫn toàn diện các thao tác nghi tiết thực hành tang lễ.
    • Tác phẩm đóng vai trò phân nhánh cho hệ thống thư tịch đời sau: phần Gia lễ Quốc ngữ khởi phát dòng thư tịch hướng dẫn thực hành bằng chữ Nôm (tiêu biểu là Thọ Mai gia lễ), trong khi phần Gia lễ vấn đáp khởi phát dòng thư tịch lý luận, khảo chứng điển lễ bằng chữ Hán (tiêu biểu là Văn Công gia lễ tồn chân của Đỗ Huy Uyển).

Chương IV: Hồ Thượng thư gia lễ trong sự tiếp biến gia lễ Nho giáo ở Việt Nam

Chương IV luận giải cơ chế tiếp biến văn hóa Nho giáo qua sự so sánh đối chiếu giữa Hồ Thượng thư gia lễ với các thư tịch gia lễ kinh điển của Trung Quốc.

  • Phân kỳ lịch sử gia lễ Việt Nam:
    1. Giai đoạn trước khi tác phẩm ra đời: Gia lễ tập tục bản địa trước thời Lý $\rightarrow$ Gia lễ mang đậm dấu ấn Phật giáo thời Lý – Trần $\rightarrow$ Pháp định gia lễ Nho giáo mang tính áp đặt hành chính thời Lê sơ.
    2. Giai đoạn sau khi tác phẩm ra đời: Hình thành và phổ biến mô hình gia lễ Nho giáo bản địa hóa thời Lê Trung hưng $\rightarrow$ Lan tỏa và duy trì từ cuối Lê Trung hưng đến cuối thời Nguyễn.
  • Tiếp biến gia lễ Nho giáo qua "Gia lễ Quốc ngữ":
    • Phi mô phỏng cấu trúc: Không rập khuôn theo cấu trúc 4 lễ quy chuẩn (Quan - Hôn - Tang - Tế) của Văn Công gia lễ (Chu Hy soạn) hay Văn Công gia lễ nghi tiết (Khâu Tuấn, Dương Thận soạn), mà lược bỏ quan lễ (vốn không phù hợp với tập tục Việt) và tinh giản hôn lễ, tập trung tối đa vào tang lễ và tế lễ.
    • Mô phỏng bộ phận: Tiếp thu có chọn lọc các chế độ tang phục Nho giáo, đồng thời điều chỉnh nghi thức cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội và tâm thức văn hóa của người Việt.
  • Tiếp biến qua "Gia lễ vấn đáp": Phản ánh nhận thức thực tiễn của giới Nho sĩ Việt Nam, sử dụng điển chế kinh viện để hợp thức hóa các tập tục truyền thống dân tộc, tạo nên sự dung hòa giữa chuẩn mực đạo đức Nho gia và điều kiện sinh hoạt cộng đồng làng xã.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án hệ thống hóa và minh định khái niệm "gia lễ", "gia lễ Việt Nam" trong mối quan hệ giao thoa với gia huấn, gia quy và tộc ước; vạch rõ lịch sử hình thành khái niệm từ thư tịch cổ (Chu lễ, An Nam chí lược) đến các từ điển học hiện đại.
  2. Xây dựng khung phân kỳ lịch sử gia lễ Việt Nam lấy thế kỷ XVII và tác phẩm Hồ Thượng thư gia lễ làm mốc trung tâm cho sự chuyển biến mô hình lễ nghi.
  3. Đề xuất và luận giải mô hình tiếp biến văn hóa Nho giáo thông qua hai cơ chế: "phi mô phỏng cấu trúc" và "mô phỏng bộ phận chế độ nghi tiết".

Đóng góp về mặt thực tiễn và văn bản học

  1. Khảo sát toàn diện tiểu sử, sự nghiệp chính trị, võ bị, ngoại giao và trước tác văn hóa của danh sĩ Hồ Sĩ Dương; phân tích loại hình tác giả Nho sĩ - đại thần thời Lê Trung hưng qua hệ thống văn bia, gia phả và đăng khoa lục.
  2. Tiến hành khảo tả, giám định văn bản học, khảo dị chi tiết các bản khắc in năm 1739, 1767 và bản chép tay; xác định bản in Vĩnh Hựu thứ 5 (1739) mang ký hiệu AB.592 là thiện bản.
  3. Chứng minh vị trí tiền đề của Hồ Thượng thư gia lễ trong việc khởi phát hai dòng thư tịch gia lễ thực hành (chữ Nôm) và gia lễ lý luận (chữ Hán) tại Việt Nam trước thế kỷ XX.

Kiến nghị và định hướng ứng dụng

Luận án chỉ ra rằng kinh nghiệm lịch sử của Hồ Sĩ Dương trong việc linh hoạt hóa chuẩn mực Nho giáo để phù hợp với tập tục dân tộc là cơ sở tham khảo có giá trị thực tiễn cho công tác quản lý văn hóa hiện nay, nhằm xây dựng quy ước lễ nghi gia đình văn minh, giản dị nhưng vẫn bảo tồn được truyền thống hiếu nghĩa.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn nguồn tài liệu lưu trữ, luận án chưa thể tiếp cận trực tiếp toàn văn một số bài báo chuyên khảo tiếng Nhật của tác giả Shimao Minoru công bố từ năm 2006 đến 2009 trên Kỷ yếu Đại học Keio; một số bản sách gia lễ đã thất lạc được ghi chép gián tiếp trong Vũ trung tùy bút chưa tìm thấy văn bản gốc để đối chiếu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang toàn bộ mạng lưới khắc in thư tịch gia lễ của các phường sách tư nhân vùng châu thổ Bắc Bộ thời Hậu Lê và thời Nguyễn.
    • Đi sâu nghiên cứu sự phân hóa và biến đổi của các nghi thức gia lễ Nho giáo trong không gian văn hóa Nam Bộ và các vùng miền khác nhau từ cuối thế kỷ XIX đến nay.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều đối tượng nghiên cứu và giảng dạy:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Hán Nôm và Văn bản học: Cung cấp phương pháp mẫu mực về giám định, khảo dị và xác lập thiện bản đối với loại hình văn bản Hán Nôm khắc in qua nhiều niên đại; phương pháp xử lý văn bản Nôm xen Hán.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu Lịch sử, Văn hóa học và Dân tộc học: Cung cấp hệ thống tư liệu về lịch sử phong tục, sự du nhập và biến đổi của Nho giáo trong đời sống gia đình, dòng họ người Việt thế kỷ XVII–XIX; tài liệu khảo cứu về cuộc đời danh sĩ Hồ Sĩ Dương.
  • Nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý văn hóa: Cung cấp cơ sở lịch sử - văn hóa để xây dựng hương ước, quy ước nếp sống văn hóa mới tại các địa phương và dòng họ hiện nay.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác phẩm Hồ Thượng thư gia lễ có kết cấu văn bản như thế nào và sử dụng loại văn tự nào?

Tác phẩm gồm hai phần chính:

  • Quyển Thượng mang nhan đề Gia lễ Quốc ngữ quyển chi Thượng (viết bằng chữ Nôm), chuyên hướng dẫn thực hành các nghi tiết tang lễ và tế lễ phục vụ mục đích "báo hiếu" và cho người học dễ tiếp cận.
  • Quyển Hạ mang nhan đề Gia lễ vấn đáp quyển chi Hạ (viết bằng chữ Hán), chuyên luận giải lý luận, trích dẫn thư tịch kinh điển Nho gia để giải thích căn nguyên và tính hợp lý của nghi tiết.

2. Quá trình biên soạn tác phẩm diễn ra vào thời gian nào?

Ý tưởng biên soạn tác phẩm được hình thành sau năm 1638 (thời điểm thân phụ của tác giả qua đời, thúc đẩy ông tìm hiểu sâu về nghi chế tang phục). Tác phẩm được hoàn thành trọn vẹn vào giai đoạn sau năm 1676, khi Hồ Sĩ Dương đã hoàn thành chuyến đi sứ nhà Thanh, nhậm chức Tham tụng và đảm nhiệm công việc Giám tu Quốc sử.

3. Thuật ngữ "gia lễ" xuất hiện sớm nhất trong thư tịch Việt Nam vào thời điểm nào?

Thuật ngữ "gia lễ" xuất hiện sớm nhất trong văn bản Hán văn Việt Nam tại sách An Nam chí lược (soạn năm 1333) của Lê Trắc, tại mục "Phong tục" thuộc quyển 1. Thuật ngữ khi đó dùng để chỉ các nghi lễ tổ chức tại gia đình các quan lại vào ngày mồng hai Tết nhằm phân biệt với "quốc lễ" tại triều đình.

4. Luận án xác định bản khắc in nào của Hồ Thượng thư gia lễ là thiện bản?

Qua quá trình khảo tả, phân loại và khảo dị giữa 4 bản văn bản hiện còn (gồm các bản in năm 1739, 1767 và bản chép), luận án xác định bản khắc in năm Vĩnh Hựu thứ 5 (1739) mang ký hiệu AB.592 lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm là thiện bản chuẩn xác nhất để làm căn cứ nghiên cứu.

5. Khái niệm "phi mô phỏng cấu trúc" trong luận án phản ánh điều gì?

Khái niệm này chỉ việc tác giả Hồ Sĩ Dương khi tiếp nhận thư tịch gia lễ Trung Quốc (như Văn Công gia lễ của Chu Hy) đã không rập khuôn theo mô hình 4 nghi lễ chuẩn mực (Quan, Hôn, Tang, Tế). Thay vào đó, ông chủ động loại bỏ quan lễ và giản lược hôn lễ để tập trung hoàn toàn vào tang lễ và tế lễ, phù hợp với thực tiễn tâm thức và điều kiện sinh hoạt gia đình của người Việt.


Kết luận

Luận án "Nghiên cứu tác phẩm 'Hồ Thượng thư gia lễ'" của tác giả Vũ Việt Bằng là công trình nghiên cứu hệ thống về một trước tác lễ học giữ vai trò bản lề trong lịch sử văn hóa Việt Nam thời trung đại. Bằng việc kết hợp phương pháp văn bản học Hán Nôm với cách tiếp cận liên ngành, luận án đã làm sáng tỏ thân thế danh sĩ Hồ Sĩ Dương, xác lập thiện bản và phân tích cấu trúc song ngữ Hán – Nôm của tác phẩm. Công trình chứng minh quy luật tiếp biến văn hóa Nho giáo mang tính chọn lọc và độc lập của người Việt, đồng thời khẳng định vị thế khởi phát của Hồ Thượng thư gia lễ đối với toàn bộ hệ thống thư tịch gia lễ các thế kỷ tiếp theo.