Chương I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Gia lễ là từ chỉ hoạt động lễ nghi thực hành trong phạm vi gia đình dòng họ với nhiều loại lễ nghi thành phần. Nghiên cứu gia lễ là một phần trong lễ học, là học thuật có tính độc lập nhưng vẫn có mối liên hệ giao thoa với học thuật khác như tôn giáo, chính trị,… Nghiên cứu gia lễ Việt Nam ở hai khía cạnh hiện thực gia lễ và thư tịch gia lễ đã đạt được thành tựu khác nhau tùy thuộc bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa và phương pháp nghiên cứu trong từng giai đoạn lịch sử. Trong chương này, trên cơ sở tập hợp nghiên cứu liên quan gia lễ và Hồ Thượng thư gia lễ công bố trên nhiều loại hình, tác giả luận án tiến hành phân loại, phân tích tổng quan nghiên cứu gia lễ Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay, từ đó xác định phương hướng nghiên cứu của luận án. Khái niệm “gia lễ” “Gia lễ” là từ Hán Việt xuất hiện trong nhiều bộ từ điển tiếng Việt với ý nghĩa từ vựng “nghi lễ trong gia đình, gia tộc”.
Trong hệ thống từ điển Hán ngữ, bộ từ điển uy tín như Từ hải 辭海 không xuất hiện mã từ “gia lễ”. Trường hợp sách Từ nguyên 辭源 có mã từ “gia lễ”, nhưng không nêu ý nghĩa từ vựng, chỉ cho biết đây là tên của một cuốn sách: 家禮舊題宋朱熹撰五卷附錄一卷此書記冠婚喪祭等封建禮節 [辭源, 1998, tr.840] “Gia lễ cựu đề, Tống Chu Hy soạn, ngũ quyển, phụ lục nhất quyển, thử thư kí quan hôn tang tế đẳng phong kiến lễ tiết” (Gia lễ là nhan đề cũ của một cuốn sách, Chu Hy đời Tống soạn, gồm năm quyển, phụ lục một quyển, ghi lại các nghi tiết phong kiến như quan hôn tang tế”). Trong tư liệu Hán văn Trung Quốc, từ “gia lễ” xuất hiện đầu tiên trong thiên “Xuân quan” 春官 sách Chu lễ 周禮: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 家宗人掌家禮與其衣服宮室車旗之禁令 [dẫn theo: 杨天宇, 2004, tr.396] “Gia tông nhân chưởng gia lễ dữ kì y phục, cung thất, xa kì chi cấm lệnh” (“Gia tông nhân lo việc gia lễ, cùng với cấm lệnh về y phục, cung thất, cờ xe”). Theo Trịnh Huyền 鄭玄 (127 – 200) người chú giải Chu lễ trong Chu lễ chú sớ 周禮註疏 cho biết, “gia” chỉ thái ấp của quan Đại phu 大夫采地.
Theo đó, “gia lễ” trong sách Chu lễ là từ chỉ nghi lễ trong thái ấp quan Đại phu, nghĩa là không nói đến nghi lễ trong gia đình tầng lớp bình dân. Năm 1191, Chu Hy biên soạn Nghi lễ kinh truyện thông giải 儀禮經傳通解, trong đó có phần viết về gia lễ, dự định sẽ viết thành bộ lễ nghi dùng trong gia đình tầng lớp sĩ thứ. Theo đó, thời điểm thế kỷ XII, từ “gia lễ” mới bắt đầu mang hàm nghĩa “nghi lễ trong gia đình”. Trong Hán văn Việt Nam, từ “gia lễ” xuất hiện trong An Nam chí lược 安南志略 (ra đời năm 1333)1, quyển nhất, mục “Phong tục” 風俗: 正旦五更王坐永壽殿 […] 宗子臣僚分斑拜賀二日臣僚各行家禮 “Chính đán ngũ canh, vương tọa Vĩnh Thọ điện, […] tông tử thần liêu phân ban bái hạ […].
Nhị nhật thần liêu các hành gia lễ” (dịch nghĩa: “Canh năm nguyên đán, nhà vua ngự ở điện Vĩnh Thọ […] tông tử và các quan lần lượt chúc mừng. Ngày mồng hai, các quan về nhà cử hành gia lễ”. Theo đó, trong ngôn ngữ Hán Việt, “gia lễ” mang hàm nghĩa “nghi lễ trong gia đình” từ trước thế kỉ XIV. Tại thời điểm này, “gia lễ” chưa được cụ thể hóa thành bốn nghi lễ thành phần như quy định trong sách Gia lễ của Chu Hy.
Thêm nữa, Lê Trắc sử dụng từ “gia lễ” với hàm nghĩa “nghi lễ gia đình” để phân biệt với “quốc lễ” là “nghi lễ trong triều”, phân biệt giữa một bên là nghi lễ trong quan hệ gia đình, gia tộc và một bên là nghi lễ trong quan hệ triều chính. Sau thế kỉ XV, khi sách Gia lễ lưu hành ở Việt Nam, từ “gia lễ” với hàm nghĩa quan hôn tang tế mới được nhà Nho Việt Nam tiếp nhận. Từ đó về sau, từ “gia lễ” được nhà Nho Việt Nam mặc nhận là từ chỉ quan lễ, hôn lễ, tang lễ, tế lễ: 1 An Nam chí lược, A. Đây là bản An Nam chí lược 安南志略 soạn năm Nguyên Thống thứ nhất (1333).
Ngạn Ngâm Hương (Nhật Bản) biên tập năm Giáp Thân, Minh Trị thứ 17 (1884) bản Lạc Thiện đường (Thượng Hải ấn hành). 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Xưa tiên hiền chế định lễ nghi, quan lễ, hôn lễ, tang lễ, tế lễ chẳng có gì không đầy đủ”2; “Lễ là hình thức văn sức của lí trời, là chuẩn tắc của việc người, bốn lễ quan, hôn, tang, tế luôn được coi trọng trong nhân đạo”3; “Lễ có ba trăm ba nghìn, bốn lễ quan, hôn, tang, tế là thứ quan trọng nhất của lễ”4. Thế kỉ XX, một số từ điển ở Việt Nam5 đều thống nhất cho rằng, gia lễ là từ chỉ nghi lễ gia đình bao gồm quan lễ, hôn lễ, tang lễ, tế lễ. Đào Duy Anh giải thích thêm, “gia lễ […] bộ sách chép các lễ Quan, Hôn, Tang, Tế” [Đào Duy Anh, 2004, tr.317], ý kiến này tương đồng sách Từ nguyên.
Như vậy xét về nội hàm ý nghĩa từ vựng, từ “gia lễ” vốn xuất hiện trong sách Chu lễ, để chỉ “nghi lễ trong thái ấp quan đại phu”. Trong ngôn ngữ Việt, từ “gia lễ” ban đầu chỉ để biểu thị ý các hoạt động nghi lễ gia đình nói chung và đến thế kỉ XV, từ “gia lễ” mới được mặc nhận hàm nghĩa nghi lễ gia đình/gia tộc bao gồm quan lễ, hôn lễ, tang lễ, tế lễ. Tuy nhiên, xét ở phạm vi nghiên cứu, gia lễ là đối tượng nghiên cứu với hai khía cạnh cơ bản: một là hiện thực gia lễ, chỉ các hoạt động thực hành lễ nghi trong gia đình dòng họ; hai là văn hiến gia lễ, chỉ thư tịch ghi chép về gia lễ. Gia lễ gồm nhiều loại nghi lễ thành phần, nhưng mỗi nghi lễ thành phần đều có tính độc lập tương đối và đều có thể trở thành đối tượng nghiên cứu độc lập.
Vì vậy, trên bình diện thư tịch, sách gia lễ Việt Nam mặc dù được soạn thảo trên cơ sở bốn lễ nghi thành phần nhưng không nhất thiết phải đầy đủ bốn loại nghi lễ mà có thể chỉ là một, hai hoặc ba nghi lễ. Trong phạm vi không gian dòng họ, gia lễ còn có quan hệ mật thiết với gia huấn, gia quy, tộc ước vì cùng là công cụ “lập thân xử thế” 立身處世, “trị gia giáo tử” 治家 教子, mục đích kéo dài sinh mệnh dòng họ. Chính vì thế, thư tịch gia lễ và gia huấn, 2 Dịch từ: Thọ Mai gia lễ, VHv.108, “Thọ Mai gia lễ tự”. 3 Dịch từ: Tứ lễ lược tập, A.1016, “Tứ lễ trích tập tự”.
4 Dịch từ: Tứ lễ lược tập, A,1016, “Tứ lễ lược tập tự”. 5 Một số từ điển định nghĩa “gia lễ” như: Nguyễn Lân: Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1989, tr.254; Nguyễn Như Ý: Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá Thông tin, 1999, tr. 720; Đào Duy Anh: Hán Việt từ điển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gia quy có nhiều nội dung tương đồng, trong thư tịch gia quy, gia huấn có gia lễ và ngược lại.
Theo đó, nhìn từ nhiều khía cạnh, nội hàm và các mối quan hệ của gia lễ được mô hình hóa trong hình sau đây. Trong đó, gia lễ và gia huấn thông thường có phần giao thoa, gia lễ có phần gia huấn, gia huấn có phần gia lễ. Trong phạm vi gia lễ bao gồm thông lễ và quan, hôn, tang, tế. Xét riêng ở góc nhìn thư tịch, những thư tịch chỉ viết về ba hoặc bốn nghi lễ thành phần thì có thể có nhan đề là tam lễ, tứ lễ.
Theo đó, tam lễ, tứ lễ nằm trong phạm vi gia lễ. Tuy vậy, nếu xét ở phạm vi gia lễ Việt Nam, hay thư tịch gia lễ Việt Nam nói riêng, thì khái niệm hay nội hàm gia lễ cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng hơn. Đó cũng là một trong những mục đích hướng đến của luận án. Sơ đồ biểu thị nội hàm gia lễ 1.
Tình hình nghiên cứu gia lễ Việt Nam Gia lễ là một mặt biểu hiện sinh động của xã hội, các hoạt động liên quan gia lễ đều không tách rời hoạt động xã hội, đặc biệt là chịu sự ảnh hưởng trực tiếp bởi điều kiện kinh tế. Chính vì vậy, nghiên cứu gia lễ cũng ít nhiều ảnh hưởng bởi đời sống xã hội, trong đó có yếu tố kinh tế. Xuất phát từ thực tế đó, khi phân tích thành tựu nghiên cứu gia lễ từ đầu thế kỷ XX đến nay, chúng tôi phân đoạn theo các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội. Nghiên cứu hiện thực gia lễ 1.
Gia lễ là đối tượng nghiên cứu độc lập Giai đoạn trước năm 1945 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước thế kỷ XX, tư liệu Hán Nôm liên quan gia lễ chủ yếu nêu quan điểm cá nhân người soạn về một hiện tượng gia lễ nhất định, nên chưa mang tính nghiên cứu. Đầu thế kỉ XX, đội ngũ nghiên cứu gia lễ sống vào cuối thể kỉ XIX đầu thế kỷ XX, có lợi thế vừa được tiếp cận di sản văn hóa truyền thống vừa được tiếp nhận phương pháp nghiên cứu khoa học phương Tây nên nghiên cứu di sản truyền thống trong đó có gia lễ đã đạt được thành tựu vượt bậc. Nghiên cứu gia lễ đầu tiên: Le rituel funéraire des annamites (tạm dịch là “Tang lễ của người An Nam”) của học giả Gustave Émile Dumoutier vào năm 1902. Nghiên cứu đầu tiên về gia lễ Việt Nam là ấn phẩm Le rituel Funéraire des annamites của học giả Gustave Émile Dumoutier ấn hành năm 1902.
Gustave Émile Dumoutier sinh năm 1850 tại Courpalay (Pháp), mất năm 1904 tại Đồ Sơn (Việt Nam), là học giả người Pháp có nhiều năm nghiên cứu Việt Nam ở nhiều góc độ: nghiên cứu lịch sử, nhân học, khảo cổ học, văn hóa học, với nhiều ấn phẩm nghiên cứu có giá trị như Les pagodes de Hanoi (Các ngôi chùa ở Hà Nội), Le Grand Bouddha de Hanoi (Bức tượng Phật lớn ở Hà Nội) và Le rituel Funéraire des Annamites (Tang lễ của người An Nam)…6.