Luận án tiến sĩ nghiên cứu tính an toàn và tác dụng của dịch chiết nước tỏa dương balanophora laxiflora lên một số chỉ tiêu sinh sản ở chuột đực

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tính an toàn và tác dụng của dịch chiết nước tỏa dương Balanophora laxiflora lên chỉ tiêu sinh sản ở chuột đực.

Trường đại học

Viện Y học cổ truyền Quân đội

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sỹ y học
177
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. QUAN ĐIỂM CỦA Y HỌC HIỆN ĐẠI VỀ SINH SẢN NAM

1.2. QUAN NIỆM CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN VỀ SINH SẢN NAM

1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN ĐIỀU TRỊ SUY SINH DỤC NAM TẠI VIỆT NAM

1.4. CÂY TỎA DƯƠNG

2. CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. NGUYÊN LIỆU NGHIÊN CỨU

2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH CỦA DỊCH CHIẾT NƯỚC TỎA DƯƠNG

3.2. ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA DỊCH CHIẾT NƯỚC TỎA DƯƠNG TRÊN HOẠT TÍNH ANDROGEN, HÀNH VI TÌNH DỤC VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU Ở CHUỘT CỐNG GÂY SUY GIẢM SINH SẢN BẰNG NATRI VALPROAT

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. VỀ ĐỘC TÍNH CỦA DỊCH CHIẾT NƯỚC TỎA DƯƠNG

4.2. VỀ TÁC DỤNG CỦA DỊCH CHIẾT NƯỚC TỎA DƯƠNG LÊN CHỨC NĂNG SINH SẢN Ở CHUỘT ĐỰC

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Dịch chiết tỏa dương và Balanophora Laxiflora

Dịch chiết tỏa dương từ cây Balanophora Laxiflora được nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng và độ an toàn trên sinh sản chuột đực. Cây tỏa dương thuộc chi Balanophora, có hình thái đặc biệt và được sử dụng trong y học cổ truyền để điều trị các bệnh liên quan đến sinh lý nam. Balanophora Laxiflora là một trong ba loài tỏa dương phân bố tại Việt Nam, chủ yếu ở các tỉnh Hòa Bình, Lào Cai và Yên Bái. Nghiên cứu này tập trung vào việc chiết xuất và đánh giá tác dụng dược lý của dịch chiết nước từ loài cây này.

1.1. Chiết xuất thực vật

Quá trình chiết xuất thực vật từ Balanophora Laxiflora được thực hiện bằng phương pháp ngâm nước, tạo ra dịch chiết nước tỏa dương. Phương pháp này được lựa chọn do tính đơn giản và hiệu quả trong việc bảo toàn các hoạt chất có lợi. Dịch chiết sau đó được sử dụng trong các thí nghiệm trên chuột đực thí nghiệm để đánh giá tác dụng sinh sản và độ an toàn.

1.2. Tình hình nghiên cứu thảo dược sinh sản

Việc sử dụng thảo dược sinh sản trong điều trị suy giảm sinh dục nam đã được quan tâm từ lâu. Balanophora Laxiflora được xem là một ứng cử viên tiềm năng do các tác dụng được ghi nhận trong y học cổ truyền. Tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học về loài cây này còn hạn chế, đặc biệt là về tính an toàn và hiệu quả trên mô hình động vật.

II. Tác dụng dược lý và an toàn dược liệu

Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá tác dụng dược lý của dịch chiết tỏa dương trên sinh sản chuột đực. Các chỉ tiêu sinh sản như hoạt tính androgen, hành vi tình dục và chất lượng tinh trùng được theo dõi. Đồng thời, nghiên cứu cũng đánh giá độ an toàn dược liệu thông qua các thí nghiệm độc tính cấp, bán trường diễn và độc tính sinh sản.

2.1. Đánh giá tác dụng dược lý

Tác dụng dược lý của dịch chiết tỏa dương được đánh giá thông qua các thí nghiệm trên chuột đực thí nghiệm. Kết quả cho thấy dịch chiết có khả năng cải thiện hoạt tính androgen, tăng cường hành vi tình dục và nâng cao chất lượng tinh trùng. Điều này cho thấy tiềm năng của Balanophora Laxiflora trong việc hỗ trợ điều trị suy giảm sinh dục nam.

2.2. Đánh giá độ an toàn

Độ an toàn dược liệu được kiểm tra thông qua các thí nghiệm độc tính. Kết quả cho thấy dịch chiết tỏa dương không gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng trên chuột đực thí nghiệm. Các chỉ số sinh hóa và huyết học đều nằm trong giới hạn bình thường, chứng tỏ tính an toàn của dịch chiết khi sử dụng trong thời gian dài.

III. Nghiên cứu thực nghiệm và ứng dụng

Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành trên chuột đực thí nghiệm để đánh giá tác dụng của dịch chiết tỏa dương trên các chỉ tiêu sinh sản. Kết quả nghiên cứu cho thấy dịch chiết có khả năng cải thiện chất lượng tinh trùng và tăng cường hoạt tính androgen. Điều này mở ra tiềm năng ứng dụng của Balanophora Laxiflora trong điều trị suy giảm sinh dục nam.

3.1. Mô hình nghiên cứu trên chuột đực

Chuột đực thí nghiệm được sử dụng làm mô hình nghiên cứu để đánh giá tác dụng của dịch chiết tỏa dương. Các chỉ tiêu như số lượng tinh trùng, khả năng di động và hình thái tinh trùng được theo dõi. Kết quả cho thấy dịch chiết có tác dụng tích cực trong việc cải thiện các chỉ tiêu này.

3.2. Tiềm năng ứng dụng trong y học

Kết quả nghiên cứu cho thấy dịch chiết tỏa dương có tiềm năng ứng dụng trong điều trị suy giảm sinh dục nam. Việc sử dụng Balanophora Laxiflora như một loại thảo dược hỗ trợ sinh sản có thể mang lại hiệu quả cao và an toàn. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển các sản phẩm từ loài cây này.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tính an toàn và tác dụng của dịch chiết nước tỏa dương balanophora laxiflora lên một số chỉ tiêu sinh sản ở chuột đực

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. QUAN ĐIỂM CỦA Y HỌC HIỆN ĐẠI VỀ SINH SẢN NAM 1. Cơ quan sinh sản nam Cơ quan sinh sản nam gồm có: Hai tinh hoàn, những ống dẫn tinh, các tuyến phụ thuộc như túi tinh, tuyến tiền liệt, tuyến hành niệu đạo, dương vật - bộ phận sinh sản ngoài của nam giới.1: Cấu tạo bộ máy sinh sản nam [vncreatures. Tinh hoàn Tinh hoàn là hai tuyến hình trứng, kích thước chiều dài khoảng 5cm, và đường kính còn lại là 2,5cm.

Mỗi tinh hoàn cân nặng từ 10 đến 15 gam. 4 Cấu tạo của tinh hoàn được chia làm nhiều thuỳ bằng các vách xơ. Trong mỗi thuỳ có nhiều ống nhỏ ngoằn nghèo được gọi là ống sinh tinh, đây chính là nơi sản sinh tinh trùng. Tinh hoàn [vncreatures.

tinh hoàn có khoảng 900 1. Lưới tinh hoàn 2. Tiểu thùy tinh hoàn ống sinh tinh. Tiếp nối với ống sinh tinh là ống mào tinh, rồi đến ống dẫn tinh.

Xen kẽ giữa các ống sinh tinh là các tế bào Leydig. Thành ống sinh tinh được tạo nên bởi hai loại tế bào: tế bào Sertoli (hoặc tế bào chống đỡ, bảo vệ) và các tế bào dòng tinh. Các tế bào này sẽ biệt hoá qua các giai đoạn nhất định để tạo thành tinh trùng [8]. Theo y học hiện đại, tinh hoàn là bộ phận chủ yếu của bộ máy sinh dục nam.

- Các ống của tinh hoàn: Từ các ống sinh tinh xoắn, qua ống sinh tinh thẳng, tinh trùng được đưa vào một mạng lưới các ống của tinh hoàn gọi là lưới tinh, sau đó, tinh trùng đi vào các ống xuất của mào tinh, rồi đến một ống duy nhất là ống mào tinh. - Mào tinh: Mào tinh là một cơ quan hình chữ C, dài khoảng 4cm, nằm dọc theo bờ sau của tinh hoàn. Phần trên to gọi là đầu, nơi nhận các ống của tinh hoàn, thân là phần giữa và đuôi là phần nhỏ nhất ở dưới cùng, tiếp nối với ống dẫn tinh. Mào tinh chứa ống mào tinh.

Ống mào tinh là ống xoắn, nơi chứa tinh trùng trong thời gian khoảng 1 tháng, để tinh trùng trưởng thành và trở nên có thể cử động được. 5 - Ống dẫn tinh: Ống dẫn tinh tiếp ống mào tinh, ống dẫn tinh, dài khoảng 45cm, đi lên theo cạnh sau của mào tinh, qua ống bẹn và đi vào hố chậu, ở đó ống dẫn tinh bắt chéo với niệu quản và đi ra mặt sau bàng quang. Ống dẫn tinh cất chứa tinh trùng và tinh trùng có thể sống ở đó trong nhiều tháng. Ống dẫn tinh có thể đẩy tinh trùng vào niệu đạo nhờ nhu động của các lớp cơ, còn tinh trùng không tham gia phóng tinh được hấp thu trở lại.

- Ống phóng tinh: Ống phóng tinh dài khoảng 2cm, tạo nên bởi sự hợp nhau giữa ống dẫn tinh và túi tinh. Ống phóng tinh bắt đầu từ đáy tuyến tiền liệt đi xuống dưới và ra trước xuyên qua tuyến tiền liệt. Hai ống phóng tinh mở ra ở niệu đạo tiền liệt, ở đó, tinh dịch và dịch của túi tinh được tiết ra trước khi hiện tượng phóng tinh xãy ra. Tinh hoàn là một tuyến pha vừa là tuyến nội tiết (tiết ra hormon sinh dục), vừa là tuyến ngoại tiết sản xuất ra tinh trùng [9].

Chức năng sản sinh tinh trùng (chức năng ngoại tiết) Tinh trùng sinh ra từ các liên bào ống sinh tinh. Sự sản sinh tinh trùng xảy ra ở tất cả các ống sinh tinh trong suốt đời sống sinh dục của nam giới. Dưới tác dụng của hormon hướng sinh dục của tuyến yên, từ khoảng 15 tuổi tinh hoàn bắt đầu sản sinh tinh trùng, chức năng này được duy trì trong suốt cuộc đời, tuy nhiên ở tuổi ngoài 40, chức năng này bị giảm đi [10],[11]. Quá trình sản sinh tinh trùng chịu sự tác động của một số yếu tố: + Vai trò của hormon: GnRH của vùng dưới đồi tham gia điều hoà quá trình sản sinh tinh trùng thông qua các tác dụng điều hoà bài tiết LH và FSH.

LH của tuyến yên kích thích tế bào kẽ Leydig của tinh hoàn bài tiết testosteron do đó có ảnh hưởng đến quá trình sản sinh tinh trùng. 6 FSH có 3 tác dụng trong việc sản xuất tinh trùng: Kích thích sự phát triển ống sinh tinh, kích thích tế bào Sertoli bài tiết các chất nuôi dưỡng tinh trùng và kích thích tế bào Sertoli bài tiết một protein gắn với androgen (ABP). Loại protein này gắn với testosteron và cả estrogen được tạo thành từ testosteron tại tế bào Sertoli dưới tác dụng kích thích của FSH rồi vận chuyển hai hormon này vào dịch lòng ống sinh tinh để giúp cho sự trưởng thành của tinh trùng. Trong quá trình phát triển phôi, androgen bảo đảm chức năng biệt hoá sinh học.

Trong thời kỳ bào thai testosteron biệt hoá trung khu sinh dục vùng dưới đồi theo hướng nam (quy định giới tính nguyên phát), phát triển cơ quan sinh dục. Vào tháng thứ 7 - 8 của thai nhi, testosteron kích thích sự di chuyển của tinh hoàn từ bụng xuống bìu [12],[13]. Sau khi sinh, androgen đảm bảo sự trưởng thành, dẫn tới dậy thì, làm xuất hiện và bảo tồn những đặc tính sinh dục thứ phát và bản năng sinh dục trên đàn ông và động vật giống đực. Đến tuổi dậy thì testosteron kích thích sự phát triển và hoàn thiện bộ máy sinh dục: tinh hoàn, dương vật, bìu, tuyến tiền liệt, túi tinh nở to ra, túi tinh sản xuất nhiều fructose để nuôi dưỡng tinh trùng.

GH kiểm soát các chức năng chuyển hoá của tinh hoàn và thúc đẩy sự phân chia các tinh nguyên bào [14],[15]. Quá trình sinh tinh được điều hòa thông qua cơ chế nội tiết dưới sự điều khiển của hệ thống vùng dưới đồi - tuyến yên - tinh hoàn. Các hormon tham gia điều khiển quá trình sinh tinh là FSH, LH, androgen. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng estrogen cũng có vai trò đáng kể trong việc điều hòa quá trình sinh tinh.

Bằng phương pháp hóa miễn dịch tế bào người ta đã phát hiện ra có sự tồn tại của các aromatase và estrogen receptor (ER) trong tinh hoàn, trên tế bào Leydig, tế bào Sertoli, tế bào mầm và tế bào mào tinh. Kết quả các nghiên cứu trên đều nhận định aromatase và estrogen có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất tinh trùng [16],[17],[18]. 7 ER Tế bào Sertoli: Sản xuất tinh trùng Estrogen AR aromatase AR Mào tinh: Trưởng thành tinh trùng Androgen (AR: androgen receptor) + Vai trò của các yếu tố khác: Một số yếu tố khác như dinh dưỡng, nhiệt độ, sự cung cấp máu cho tinh hoàn, độ pH, kháng thể, tia X, phóng xạ, tia gama, vi rút quai bị, những chất độc hại và đặc biệt yếu tố tinh thần, stress kéo dài cũng làm giảm khả năng sinh sản tinh trùng [19]. Chức năng nội tiết của tinh hoàn Các tế bào Leydig của tinh hoàn là nơi sản xuất (95%) lượng androgen chủ yếu của cơ thể (testosteron), còn một phần nhỏ testosteron được bài tiết ở những nơi ngoài tinh hoàn như vỏ thượng thận (4%), buồng trứng, nhau thai.

Androgen là những hormon đều có nhân steroid với 19 carbon (C-19), có tác dụng kích thích và kiểm soát sự phát triển cũng như duy trì các đặc tính nam thứ phát của động vật có xương sống. Androgen cũng chính là những steroid đồng hóa và là tiền thân của tất cả các estrogen. Những androgen quan trọng trong cơ thể là testosteron, dihydrotestosteron, androstenedion, trong đó testosteron được coi là androgen chính và được tổng hợp chủ yếu từ cholesterol. Theo tuổi, nồng độ testosteron trong huyết thanh nam giới giảm dần và có thể là nguyên nhân dẫn đến một số thay đổi khác liên quan đến tuổi ở nam giới.

Từ 30 tuổi trở đi, nồng độ testosteron toàn phần giảm 0,124nmol/năm. Sự suy giảm testosteron theo tuổi đó có thể là nguyên nhân dẫn đến một loạt các rối loạn khác như giảm mật độ xương, loãng xương, giảm khối lượng cơ và sức mạnh cơ, tích lũy mỡ ở ngoại vi và nội tạng, béo phì, các rối loạn chuyển hóa, thay đổi cảm xúc. 8 Tóm lại androgen đảm bảo sự sinh sản của người, nhờ sự tạo thành tinh trùng và testosteron có chức năng duy trì bản năng sinh dục, phát triển tâm lý nam, phát triển các giới tính nam thứ phát: thanh quản to, giọng trầm, mọc lông nách, lông mu, mọc râu, xương - cơ phát triển, da không mịn màng [21], [22]. Ngoài ra, androgen còn có tác dụng lên chuyển hoá, kích thích quá trình tổng hợp protid, nhất là ở cơ và xương, do đó cân nặng cơ và xương ở nam lớn hơn nữ.

Trên chuyển hoá vật chất, testosteron làm tăng quá trình tổng hợp protein, đặc biệt là protein cơ, xương và tạng làm cho cơ thể lớn lên và tăng trọng. Testosteron làm cốt hoá sụn liên hợp, làm dầy xương, kích thích hoạt động của các tế bào tạo xương, tăng lắng đọng canxi trong xương do đó làm tăng sức mạnh cơ xương, testosteron làm tăng chuyển hoá cơ sở (15%), nó còn làm tăng số lượng hồng cầu. Androgen kích thích tạo hồng cầu, kích thích tổng hợp hemoglobin trong nguyên hồng cầu [23],[24]. Các tuyến sinh sản phụ Trong khi ống mào tinh và các ống khác chứa tinh trùng, các tuyến sinh sản phụ tiết phần lỏng của tinh dịch.

- Túi tinh: Là cơ quan có cấu trúc hình túi xoắn, dài khoảng 5cm, nằm ở phía sau và dính vào đáy của bàng quang ở phía trước của trực tràng. Tuyến tiết dịch nhầy có tính kiềm chứa fructose, prostaglandin. Tính kiềm của dịch giúp trung hoà môi trường acid trong niệu đạo nam giới và cơ quan sinh sản nữ để bảo vệ cho tinh trùng. Chất đường giúp nuôi dưỡng cho tinh trùng.

- Tuyến tiền liệt: Là một tuyến đơn, có dạng hình hạt dẻ với kích thước như hạt dẻ, nằm bên dưới bàng quang niệu đạo và được bao quanh bởi niệu đạo tiền liệt. Tuyến tiết ra một chất đục như sữa và hơi có tính acid. Chất tiết của tuyến tiền liệt đổ vào niệu đạo tiền liệt xuyên qua nhiều ống tiết của tuyến tiền liệt. Chất tiết của tuyến tiền liệt chiếm khoảng 25% của tinh dịch và góp phần vào sự sống còn, sự di động của tinh trùng.

Tuyến tiền liệt phát triển 9 chậm từ khi sinh cho đến dậy thì, sau đó nó phát triển nhanh. Kích thích đạt tiêu chuẩn ở tuổi 30, vẫn giữ nguyên cho đến 45 tuổi, sau đó có một sự phì đại lành tính xảy ra. - Tuyến hành niệu đạo Cowper: Tuyến Cowper có đường kính 3 - 5mm nằm gần niệu đạo màng và đổ vào đó. Tuyến Cowper là những tuyến ống túi, có cấu trúc biểu mô vuông đơn, chất nhày lót bên trong.

Tuyến này tiết ra chất nhày có vai trò như một chất bôi trơn [25]. Dương vật Dương vật chứa niệu đạo có hình trụ gồm một thân, gốc và quy đầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu về tác dụng và an toàn của dịch chiết tỏa dương Balanophora Laxiflora trên sinh sản chuột đực mang lại những thông tin quý giá về khả năng sinh sản và sức khỏe sinh sản của động vật. Tài liệu này không chỉ làm rõ các tác động tích cực của dịch chiết đối với sinh sản mà còn nhấn mạnh tính an toàn khi sử dụng, từ đó mở ra hướng nghiên cứu mới cho các ứng dụng trong y học và dược liệu.

Để mở rộng thêm kiến thức về các hoạt chất tự nhiên và tác dụng của chúng, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ hoá học nghiên cứu chiết tách và xác định hàm lượng các triterpene glycoside từ quả loài mướp đắng momordica charantia l, nơi nghiên cứu về các hợp chất có lợi từ thực vật. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học sàng lọc các hoạt chất có khả năng ức chế enzyme αglucosidase từ một số thực vật cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hoạt chất có khả năng điều trị bệnh. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Khóa luận tốt nghiệp đánh giá hoạt tính chống đông máu và chống ngưng tập tiểu cầu in vitro của một số hợp chất phân lập từ cây ngải hoa c generalis bail, giúp bạn hiểu rõ hơn về các ứng dụng của các hợp chất tự nhiên trong y học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong lĩnh vực nghiên cứu dược liệu.