Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác dụng ức chế của cao chiết cây mần tưới eupatorium fortunei turcz lên sinh trưởng của vi khuẩn lam độc microcystis aeruginosa kutzing trong các thủy vực nước ngọt

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu tác dụng ức chế của cao chiết cây mần tưới eupatorium fortunei turcz lên sinh trưởng của, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

180
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

0.1.1. Vi khuẩn lam độc và hiện tượng phú dưỡng trong các thủy vực nước ngọt

0.1.2. Vi khuẩn lam độc

0.1.3. Hiện tượng phú dưỡng và triển bùng nổ sinh khối VKL độc

0.1.4. Các biện pháp kiểm soát phát triển bùng nổ sinh khối VKL độc

0.1.5. Phương pháp triển khai áp dụng ngoài thực tế tại các ao, hồ Việt Nam

0.1.6. Sử dụng cao chiết thực vật và hoạt chất thiên nhiên để kiểm soát bùng nổ Vi khuẩn lam độc

0.1.7. Hoạt tính sinh học của cao chiết và các hợp chất thiên nhiên

0.1.8. Nghiên cứu điển hình sử dụng cao chiết, dịch chiết thực vật kiểm soát bùng phát VKL độc

0.1.9. Một số nhóm hoạt chất có nguồn gốc thiên nhiên kiểm soát bùng nổ VKL

0.1.10. Cơ chế tác động của các cao chiết và các hợp chất thiên nhiên lên sinh trưởng của VKL độc

0.1.11. Cây Mần tưới Eupatorium fortunei

0.1.11.1. Sơ lược về cây Mần tưới Eupatorium fortunei
0.1.11.2. Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học
0.1.11.3. Hoạt tính sinh học của cây Mần tưới
0.1.11.4. Ứng dụng cao chiết cây Mần tưới để kiểm soát bùng phát sinh khối VKL độc

0.2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.2.1. Đối tượng nghiên cứu

0.2.1.1. Cây Mần tưới Eupatorium fortunei
0.2.1.2. Vi khuẩn lam độc nước ngọt Microcystis aeruginosa Kützing
0.2.1.3. Loài tảo lục Chlorella vulgaris
0.2.1.4. Bèo tấm Lemna minor
0.2.1.5. Giáp xác Daphnia magna
0.2.1.6. Quần thể thực vật phù du hồ Hoàn Kiếm và hồ Láng

0.2.2. Thiết bị, dụng cụ và hóa chất

0.2.2.1. Thiết bị và dụng cụ

0.2.3. Phương pháp nghiên cứu

0.2.3.1. Phương pháp xử lý mẫu thực vật, tạo cao chiết và phân lập các hợp chất sạch
0.2.3.2. Phương pháp xác định cấu trúc các hợp chất sạch
0.2.3.3. Phương pháp đánh giá sinh trưởng của VKL, tảo lục Chlorella vulgaris và thực vật phù du
0.2.3.4. Phương pháp quan sát hình thái tế bào VKL và Chlorella vulgaris
0.2.3.5. Phương pháp đánh giá độc tố của cao chiết lên Daphnia magna
0.2.3.6. Phương pháp đánh giá độc tố của cao chiết lên Lemna minor
0.2.3.7. Phương pháp phân tích chất lượng môi trường nước
0.2.3.8. Phương pháp xử lý số liệu

0.2.4. Mô tả thực nghiệm

0.2.4.1. Thực nghiệm xử lý mẫu thực vật, tạo cao chiết và phân lập chất sạch
0.2.4.2. Quy trình phân lập các chất sạch từ cao chiết phân đoạn etyl axetate Mần tưới
0.2.4.3. Thực nghiệm nghiên cứu độc tính diệt VKL độc và tảo lục của các cao chiết
0.2.4.4. Thực nghiệm đánh giá tính an toàn của cao chiết
0.2.4.5. Thực nghiệm đánh giá ảnh hưởng của cao chiết đối với mẫu nước hồ tự nhiên

1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1.1. Công thức cấu tạo các chất sạch được phân lập từ cây Mần tưới Eupatorium fortunei

1.1.1. Hợp chất 7,8,9-trihydroxythymol (EfD4)

1.1.2. Hợp chất 8,10-didehydro-7,9-dihydroxythymol (EfD4)

1.1.3. Hợp chất 8,9,10-Trihydroxythymol (EfD5)

1.1.4. Hợp chất o-Coumaric acid (EfD1)

1.1.5. Hợp chất 4-(2-hydroxyethyl)benzaldehyde (EfD10)

1.1.6. Hợp chất kaempferol (EfD10)

1.1.7. Hợp chất 8,10-dihydroxy-9-acetoxythymol (EfD14)

1.2. Kết quả đánh giá khả năng ức chế sinh trưởng và diệt VKL độc, vi tảo của các cao chiết và chất sạch được phân lập

1.2.1. Đánh giá khả năng ức chế sinh trưởng VKL độc Microcystis aeruginosa TC3 của các cao chiết tổng Mần tưới

1.2.2. Đánh giá ảnh hưởng của cao chiết tổng etanol Mần tưới lên sinh trưởng của Microcystis aeruginosa TC3 và Chlorella vulgaris

1.2.3. Đánh giá ảnh hưởng của cao chiết phân đoạn lên sinh trưởng của Microcystis aeruginosa TC3 và Chlorella vulgaris

1.2.4. Đánh giá tiềm năng kiểm soát bùng nổ sinh khối Microcystis aeruginosa TC3 của cao chiết Mần tưới

1.2.5. Đánh giá hoạt tính diệt Microcystis aeruginosa TC3 của các chất sạch

1.2.6. Ảnh hưởng của cao chiết lên cấu trúc tế bào M. aeruginosa TC3 và C.

1.2.7. Kết quả đánh giá tính an toàn của cao chiết thực vật Mần tưới (ảnh hưởng lên một số sinh vật khác)

1.2.7.1. Ảnh hưởng của cao chiết đến giáp xác Daphnia magna
1.2.7.2. Ảnh hưởng của cao chiết đến bèo tấm Lemna minor

1.2.8. Bước đầu thử nghiệm ảnh hưởng của cao chiết lên sinh trưởng VKL độc trong mẫu nước hồ tự nhiên

1.2.9. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng ức chế của cao chiết lên mẫu nước hồ Hoàn Kiếm quy mô phòng thí nghiệm

1.2.10. Kết quả thử nghiệm trên mẫu nước hồ Láng quy mô 5L tại phòng thí nghiệm

1.2.11. Kết quả thử nghiệm trên mẫu nước hồ Láng quy mô ngoài trời

1.2.12. Ảnh hưởng của cao chiết đến các thông số môi trường

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác dụng ức chế của cao chiết cây Mần Tưới

Cao chiết từ cây Mần Tưới (Eupatorium fortunei) đã được nghiên cứu với nhiều tiềm năng trong việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn độc hại, đặc biệt là Microcystis aeruginosa. Vi khuẩn này thường gây ra hiện tượng nở hoa nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước và sức khỏe con người. Nghiên cứu này nhằm làm rõ cơ chế tác động của cao chiết cây Mần Tưới lên vi khuẩn độc này.

1.1. Cây Mần Tưới và đặc điểm sinh học

Cây Mần Tưới là một loài thực vật thuộc họ Cúc, nổi bật với khả năng sinh trưởng mạnh mẽ và chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cây này có khả năng kháng khuẩn và chống oxy hóa, làm cho nó trở thành ứng viên lý tưởng trong việc kiểm soát vi khuẩn độc.

1.2. Microcystis aeruginosa và tác động của nó

Microcystis aeruginosa là một trong những loài vi khuẩn lam độc phổ biến nhất trong các thủy vực nước ngọt. Chúng sản sinh ra độc tố có thể gây hại cho sức khỏe con người và động vật. Việc kiểm soát sự phát triển của chúng là rất cần thiết để bảo vệ môi trường nước.

II. Vấn đề ô nhiễm nước và sự phát triển của vi khuẩn độc

Ô nhiễm nguồn nước do sự phát triển của vi khuẩn độc như Microcystis aeruginosa đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Nguồn dinh dưỡng dư thừa từ hoạt động nông nghiệp và công nghiệp đã dẫn đến hiện tượng phú dưỡng, tạo điều kiện cho vi khuẩn độc phát triển mạnh mẽ.

2.1. Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước

Các nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước bao gồm xả thải không qua xử lý, sử dụng phân bón hóa học quá mức và ô nhiễm từ các hoạt động công nghiệp. Những yếu tố này làm gia tăng nồng độ nitơ và photpho trong nước, tạo điều kiện cho vi khuẩn độc phát triển.

2.2. Hệ quả của ô nhiễm nước

Ô nhiễm nước không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng nước mà còn gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cho con người và động vật. Việc nở hoa nước do vi khuẩn độc có thể dẫn đến cái chết của thủy sản và gây ra các bệnh lý cho người sử dụng nước ô nhiễm.

III. Phương pháp nghiên cứu tác dụng ức chế của cao chiết

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp chiết xuất và phân tích để đánh giá tác dụng ức chế của cao chiết cây Mần Tưới lên sự phát triển của Microcystis aeruginosa. Các phương pháp này bao gồm chiết xuất bằng dung môi và thử nghiệm sinh học.

3.1. Quy trình chiết xuất cao chiết từ cây Mần Tưới

Quy trình chiết xuất cao chiết từ cây Mần Tưới bao gồm việc thu hái, làm khô và chiết xuất bằng các dung môi khác nhau. Các hợp chất có hoạt tính sinh học sẽ được phân lập và đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn độc.

3.2. Thử nghiệm tác động của cao chiết lên vi khuẩn độc

Các thử nghiệm sẽ được thực hiện để đánh giá khả năng ức chế sinh trưởng của Microcystis aeruginosa dưới tác động của cao chiết. Kết quả sẽ được phân tích để xác định hiệu quả và cơ chế tác động của các hợp chất trong cao chiết.

IV. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy cao chiết từ cây Mần Tưới có khả năng ức chế mạnh mẽ sự phát triển của Microcystis aeruginosa. Các hợp chất trong cao chiết đã được xác định có tác dụng diệt khuẩn và giảm thiểu độc tố trong nước.

4.1. Đánh giá khả năng ức chế của cao chiết

Kết quả cho thấy cao chiết từ cây Mần Tưới có khả năng ức chế sinh trưởng của Microcystis aeruginosa ở nồng độ thấp. Điều này cho thấy tiềm năng ứng dụng của cao chiết trong việc kiểm soát ô nhiễm nước.

4.2. Ảnh hưởng của cao chiết đến các sinh vật khác

Nghiên cứu cũng đánh giá ảnh hưởng của cao chiết đến các sinh vật khác trong hệ sinh thái nước. Kết quả cho thấy cao chiết có tính an toàn cao, không gây hại cho các loài sinh vật khác như tảo và động vật phù du.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cao chiết từ cây Mần Tưới có tiềm năng lớn trong việc kiểm soát sự phát triển của vi khuẩn độc trong các thủy vực nước ngọt. Các nghiên cứu tiếp theo cần được thực hiện để xác định rõ hơn về cơ chế tác động và ứng dụng thực tiễn của cao chiết.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Cao chiết từ cây Mần Tưới đã chứng minh được khả năng ức chế sự phát triển của Microcystis aeruginosa, mở ra hướng đi mới trong việc kiểm soát ô nhiễm nước.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình chiết xuất và đánh giá tác động lâu dài của cao chiết trong môi trường tự nhiên. Điều này sẽ giúp phát triển các giải pháp bền vững cho vấn đề ô nhiễm nước.

27/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác dụng ức chế của cao chiết cây mần tưới eupatorium fortunei turcz lên sinh trưởng của vi khuẩn lam độc microcystis aeruginosa kutzing trong các thủy vực nước ngọt

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất đã trở thành vấn đề hàng đầu, gióng hồi chuông cảnh báo về sự suy giảm chất lượng cuộc sống và sức khỏe con người không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nơi trên thế giới. Ô nhiễm nguồn nước mặt là đặc biệt nghiêm trọng khi nhiều nơi trên thế giới người dân không có nước sạch để sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt kéo theo tỉ lệ tử vong và bệnh tật gia tăng vì sử dụng nguồn nước không đạt yêu cầu. Nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến ô nhiễm nguồn nước mặt như xả trực tiếp các nguồn nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt mà không qua xử lý hoặc lạm dụng quá mức phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp để nâng cao sản lượng lương thực đáp ứng sự gia tăng dân số thế giới trong những thập kỉ gần đây. Hậu quả dẫn đến gia tăng nguồn dinh dưỡng (chủ yếu là nitơ và photpho) trong các thủy vực gây nên hiện tượng phú dưỡng mà kéo theo là “tảo nở hoa” hoặc “nở hoa của nước”.

Sự nở hoa của nước bản chất là sự phát triển ồ ạt của Vi khuẩn lam (VKL) và vi tảo, có khả năng sản sinh độc tố kéo theo sự nhiễm độc và cái chết của thủy hải sản, động vật nuôi, động vật hoang dã và con người [1]. Sự nở hoa của nước thường gây ra những tác động xấu lên môi trường như làm đục nước, tăng giá trị pH, giảm hàm lượng oxy hòa tan, tăng độc tố đặc biệt là độc tố microcystin. Kết quả điều tra ở các thủy vực nước ngọt cho thấy trong các loài VKL độc gây hiện tượng nở hoa nước thì Microcystis aeruginosa chiếm đến 90% và sản sinh ba loại độc tố nguy hiểm là độc tố gan (hepatotoxins), độc tố thần kinh (neurotoxins) và độc tố gây dị ứng da. Điều nghiêm trọng là tần suất xuất hiện các loài VKL độc ngày càng tăng làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và động vật nuôi, động vật hoang dã do sử dụng nguồn nước có VKL độc.

Do đó ngăn ngừa và giảm thiểu sự phát triển bùng nổ của VKL độc là vấn đề quan trọng cần phải được quan tâm. Các phương pháp xử lý ô nhiễm môi trường nước gây ra bởi VKL độc đã được nghiên cứu và áp dụng từ những phương pháp cơ học đơn giản như hớt váng, che sáng hay pha loãng nước hồ đến các phương pháp lý - hóa như dùng sóng siêu âm, sử dụng ánh sáng cực tím, hoặc sử dụng các hợp chất hóa học diệt tảo, các hợp chất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 có tính oxi hóa cao, các kim loại và nano kim loại. Những phương pháp này bên cạnh những ưu điểm dễ thấy như hiệu quả tác động nhanh, rõ rệt trong thời gian ngắn nhưng còn tồn tại những hạn chế như tốn kém kinh phí triển khai hoặc gây ra sự ô nhiễm môi trường thứ cấp, tác động không chọn lọc lên các loài sinh vật do đó gây suy giảm đa dạng sinh học đặc biệt sử dụng hóa chất sau một thời gian quan sát thấy hiện tượng nhờn thuốc và vì thế chúng bị hạn chế triển khai ở quy mô thực tế. Do đó phương pháp sinh học dùng các cao chiết có nguồn gốc thực vật để ức chế sinh trưởng VKL đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vì tính hiệu quả và thân thiện với môi trường.

Cây Mần tưới Eupatorium fortunei Turcz., thuộc họ Cúc (Asteraceae) là loài cây cỏ lâu năm, được sử dụng trong dân gian như một loại thuốc chữa bệnh và được chứng minh hoạt tính kháng khuẩn trong nhiều nghiên cứu khác nhau. Năm 2013, Nguyễn Tiến Đạt và cộng sự đã tiến hành khảo sát và so sánh hoạt tính diệt VKL độc M. aeruginosa của nhiều loại cao chiết từ các loài thực vật khác nhau tại Việt Nam cho thấy cao chiết cây Mần tưới có hiệu quả nhất để kiểm soát bùng nổ VKL độc [2]. Kết luận này được khẳng định bởi các công bố của Phạm Thanh Nga trong những năm tiếp theo [3].

Tuy nhiên đây mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu khảo sát hoạt tính diệt VKL độc của cao chiết cây Mần tưới. Từ những lý do trên đề tài luận án tiến sỹ: “Nghiên cứu tác dụng ức chế của cao chiết cây Mần tưới (Eupatorium fortunei Turcz.) lên sinh trưởng của Vi khuẩn lam độc Microcystis aeruginosa Kutzing trong các thủy vực nước ngọt” đã được lựa chọn để thực hiện. Luận án đã đặt ra mục tiêu như sau: Tạo được cao chiết thực vật ức chế hiệu quả sinh trưởng của Vi khuẩn lam độc Microcystis aeruginosa. Luận án có tính chất kế thừa kết quả của những nghiên cứu trước và sẽ giải quyết nhiều vấn đề còn tồn tại.

Luận án đã đặt ra những nội dung như sau: 1. Xây dựng quy trình tạo cao chiết tổng, cao chiết phân đoạn, các chất sạch phân lập từ cây Mần tưới. Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng ức chế của cao chiết tổng Mần tưới lên sinh trưởng của M. aeruginosa và đánh giá an toàn sinh thái.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng ức chế của cao chiết phân đoạn etyl axetat và cao chiết phân đoạn nước Mần tưới lên sinh trưởng của M. aeruginosa và đánh giá an toàn sinh thái. Nghiên cứu phân lập và đánh giá hoạt tính diệt VKL độc M.aeruginosa của 07 hợp chất hóa học được phân lập từ cây Mần tưới.

Nghiên cứu thử nghiệm ứng dụng cao chiết để kiểm soát bùng nổ Vi khuẩn lam trong các mẫu nước hồ tự nhiên. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án Ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt hiện tượng phú dưỡng kéo theo sự bùng phát sinh khối VKL với việc giải phóng độc tố microcystin đã nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu trong thời gian gần đây. Sử dụng cao chiết từ thực vật để kiểm soát bùng nổ sinh khối VKL thể hiện nhiều ưu điểm vượt trội so với các phương pháp truyền thống được áp dụng trước đây. Kết quả của luận án cung cấp cơ sở khoa học, chứng minh tính ưu việt khi áp dụng cao chiết thực vật như một hoạt chất ức chế và diệt chọn lọc VKL độc để kiểm soát bùng phát sinh khối VKL độc.

Tính mới của luận án - Tách chiết được 02 chất mới (7,8,9 - trihydroxythymol và 8,10-didehydro-7,9- trihydroxythymol) và đánh giá tác động của 02 chất này lên M. aeruginosa trong dải nồng độ từ 1,0 µg/mL đến 50,0 µg/mL với hiệu quả ức chế sinh trưởng ghi nhận từ 39,1÷41,2 % và 20,0 – 25,0 %, tương ứng sau 72 giờ. - Bước đầu ghi nhận khả năng ức chế sinh trưởng M. aeruginosa ≥ 90 % tại nồng độ 500 µg/mL ở quy mô phòng thí nghiệm và hiệu quả trên 60 % ở quy mô ngoài trời với mẫu nước hồ tự nhiên.

Độc tính của cao chiết tổng etanol Mần tưới đối với Daphnia magna và Lemna minor ghi nhận là thấp hơn so với M. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vi khuẩn lam độc và hiện tượng phú dưỡng trong các thủy vực nước ngọt 1. Vi khuẩn lam độc (VKL) Vi khuẩn lam (Cyanobacteria, Cyanoprokaryota, Cyanophyta, Blue-green microalgae) là một trong những sinh vật xuất hiện trên Trái Đất cách đây hàng tỷ năm và mang nhiều tên gọi khác nhau trong quá trình nghiên cứu.

Từ năm 1854, Kopp đã coi vi khuẩn và tảo lam là một nhóm có chung nguồn gốc phát sinh. Theo những đặc điểm hình thái khác nhau, VKL được chia làm 4 bộ, Chlorococcales, Oscillatoriales, Nostocales và Stigonematales. Theo các tài liệu công bố, hiện nay có khoảng 100 loài VKL độc nước ngọt thuộc 40 chi trong đó Microcystis đặc biệt là Microcystis aeruginosa, một trong những chi thường gặp nhất phổ biến nhất với tỉ lệ trên 75 % [1, 4]. Microcystis aeruginosa có dạng tập đoàn, dạng hình cầu hoặc mắt lưới với các khoảng trống giữa các tế bào, tế bào phân bố trong tập đoàn có dạng hình cầu, màu xanh nhạt, xếp chồng lên nhau.

Cấu trúc cơ thể, hình dạng và kích thước: Trong phân loại hiện đại, VKL và vi khuẩn có nhiều những nét chung như sinh vật chưa có nhân điển hình, chỉ có chất nhân và nhiễm sắc thể. Màng tế bào cấu tạo từ murein một loại gluco aminopeptid trong tế bào chất có nhiều riboxom, có khả năng đồng hóa được N2 tự do và có khả năng quang hợp. Tế bào chứa sắc tố quang hợp và hấp thụ bước sóng từ 430-440 nm và từ 660-680 nm [5]. Ngược lại với vi tảo nhân thật, VKL không có màng nhân mà chỉ có lớp màng peptidoglycan và chứa ribosom loại 70 S [1].

Chi Microcystis thường tồn tại dưới dạng tập đoàn gồm hàng nghìn tế bào riêng lẻ có kích thước từ 3-10 µm dao động phụ thuộc vào từng loài. Dinh dưỡng và sinh sản: Phần lớn VKL là những cơ thể quang tự dưỡng hiếu khí. VKL có khả năng dự trữ các chất dinh dưỡng thiết yếu và đồng hóa bên trong tế bào chất, có thể quan sát dưới kính hiển vi các hạt glycogen, giọt lipip, các hạt cyanophycin, các thể polyphosphate hay carboxysome. VKL chỉ sinh sản vô tính.

Các loài dạng sợi thường sinh sản bằng cách phân đoạn các trichome hoặc hình thành các đoạn tảo (hormogonia). Đoạn tảo là những đoạn sợi sinh sản phân biệt. Chúng được tạo thành nhờ chuyển động trượt và dần dần phát triển thành những trichome mới, các loài dạng sợi thường sinh sản bằng cách phân đoạn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Phân bố VKL: Sự phân bố của VKL phụ thuộc vào nhiều yếu tố thủy văn và khí hậu của từng vùng đặc biệt là điều kiện dinh dưỡng của môi trường sống.

Đa số các loài VKL trong tế bào đều chứa không bào khí. Đó là các thể nội bào dạng túi chứa khí giúp điều khiển sự nổi của tế bào giúp cho chúng có ưu thế trong cạnh tranh ánh sáng và dinh dưỡng. VKL phân bố rộng, chúng có trong nước, đất, ở các nơi khô hạn, trên cây, băng tuyết. Độc tố VKL: Neurotoxin là nhóm các chất độc thần kinh, hợp chất độc hại nhất do VKL sản sinh ra và chúng can thiệp vào hệ thần kinh, gây tê liệt các cơ quan hô hấp, gây tử vong chỉ sau vài phút tác động.

Độc tố LD50-24 h (Lethal dose, 50%) của các nhóm là khác nhau nhưng nhìn chung là rất độc dao động từ 10 đến 200 μg/kg, độc nhất phải kể đến Saxitoxin với LD50-24 h là 10 μg/kg, LD50 của nhóm Microcystin-LR là 50 μg/kg [6]. Microcystin là phân tử peptit có cấu trúc vòng, hiện nay ghi nhận hơn 80 loại biến thể cấu trúc, trong đó ba loại phổ biến nhất được trình bày tại hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ