ĐẶT VẤN ĐỀ Các Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và Vườn quốc gia (VQG) có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học và mang lại lợi ích cho con người. Hiện nay các Khu bảo tồn đã và đang gặp rất nhiều khó khăn từ phía các cộng đồng địa phương, đặc biệt đối với những nước đang phát triển. Việt Nam là một nước nhiệt đới với 3/4 diện tích đất đai là đồi núi, rất giàu về đa dạng sinh học. Việt Nam được công nhận là đất nước đa dạng về nguồn gen động, thực vật.
Cho đến nay trên lãnh thổ Việt Nam, các nhà Khoa học đã điều tra phân loại thống kê được khoảng 13.766 loài thực vật, trong đó có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao (Nguyễn Nghĩa Thìn 1999) và khoảng 21.984 loài động vật hoang dã. Do rừng bị thu hẹp, các khu rừng đặc dụng bị đẩy lùi tới những vùng núi nên hầu hết các khu rừng đặc dụng phân bố ở vùng sâu xa, nơi đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống. Mỗi một khu rừng đặc dụng có những đặc điểm đặc trưng riêng biệt nhưng thường có đặc điểm chung là địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn, kinh tế xã hội chưa phát triển, cuộc sống người dân chủ yếu phụ thuộc vào rừng. Đặc điểm này đã gây ra không ít khó khăn và trở ngại cho công tác quản lý các khu rừng đặc dụng trong những năm qua.
Lực lượng quản lý về lâm nghiệp mỏng, nhiều nơi không đủ điều kiện thành lập ban quản lý rừng đặc dụng cũng như lực lượng mỏng, hoạt động kém hiệu quả. Những đặc điểm này là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm về ĐDSH, theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), đã ghi nhận 882 loài động thực vật thuộc diện quý, hiếm đang bị đe dọa. Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên được thành lập theo Quyết định số 512/QĐ - UBND ngày 09 tháng 10 năm 2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái. Đây là khu rừng nguyên sinh có tổng diện tích 16.950 ha, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 nằm trên địa bàn các xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng, Phong Dụ Thượng của huyện Văn Yên.
Hiện nay KBT còn lưu giữ được nhiều loài thực vật quý hiếm có nhiều giá trị kính tế vào bảo tồn cao, với 80% diện tích rừng nguyên sinh có 40 loài động, thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ, 214 loài thực vật cần bảo tồn nguồn gen. Khu bảo tồn gồm 5 dân tộc sinh sống (Kinh, Dao, Tày, Thái, H’Mông). Trong đó 2 dân tộc chính là dân tộc Dao và H’Mông. Tại xã Nà Hẩu, do mới được chuyển dân định cư vào những năm 1980, thành phần dân tộc gần 100% là H’Mông, tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm gần 50% tổng số hộ, nghề nghiệp chủ yếu làm nông nghiệp cuộc sống của một phần lớn người dân còn phụ thuộc vào khai thác tài nguyên rừng và hoạt động sản xuất nương rẫy.
Mặc khác, sự tham gia của cộng đồng thôn bản vào các hoạt động quản lý tài nguyên rừng còn rất nhiều hạn chế, tạo ra những khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng ở địa phương. Vì vậy, thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tác động của người dân đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái”, làm cơ sở cho việc đề xuất và xây dựng các biện pháp bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng một cách hiệu quả. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về tài nguyên rừng Tài nguyên rừng là một bộ phận quan trọng của tài nguyên thiên nhiên, đây là loại tài nguyên có khả năng tái tạo được.
Tuy nhiên nếu việc khai thác, sử dụng không đúng, bừa bãi thì có thể dẫn đến suy thoái và không thể tái tạo. Tài nguyên rừng có vai trò quan trọng vớ bầu khí quyển, khí hậu, đất đai, mùa màng. điều hào nhiệt độ, ngăn chặn hiệu ứng nhà kính, điều hòa không khí, nguồn nước và bảo vệ môi trường. Tài nguyên rừng ngăn ngừa hạn chế các hiện tượng thiên tai như bão,lũ quét, sạt lở đất, lu lụt, biển xâm lấn.
Cung cấp nguồn gen động, thực vật quý hiếm, là nơi sinh sống, cư chú và phát triển của nhiều loại động vật. Con người có thể sử dụng tài nguyên rừng để chế biến sản xuất các sản phẩm phục vụ cuộc sống. Hiện hơn một nửa tài nguyên rừng trên thế giới đang bị phá hủy nghiêm trọng và hơn 30% đang bị suy thoái, trong khi đó trên một tỉ người nghèo đang sống chủ yếu dựa vào tài nguyên rừng. Nguyên nhân của tình trạng trên do ý thức bảo vệ tài nguyên của người dân còn kém, do đời sống còn găp nhiều khó khăn nhưng một phần không nhỏ là do chưa có những chế tài đủ mạnh để giáo dục, răn đe và xử phạt nghiêm khắc hành vi phá rừng ở một số quốc gia.
Khái niệm sự tham gia của người dân Trong quá trình nghiên cứu LNXH và LNCĐ nhiều tác giả đã đưa ra những khái niệm khác nhau về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - “Sự tham gia là một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định” (Theo WB). - “Sự tham gia là sự thực hiện trồng và quản lý rừng của Nam và Nữ trong cộng đồng với sự hỗ trợ bên ngoài cộng đồng” (Theo Hoskin,1994). - “Sự tham gia của người dân như là một quá trình mà qua đó người nghèo nông thôn có khả năng tự tổ chức và như các tổ chức của chính họ, có khả năng nhận hết nhu cầu của chính mình và tham gia trong thiết kế thực hiện và đánh giá các phương án tại địa phương” (FAO, 1982).
- “Sự tham gia của người dân như là sự hợp tác chặt chẽ của họ tới mức người dân cảm thấy phải chịu trách nhiệm về thành công hay thất bại của dự án phát triển lâm nghiệp” (FAO, 1983). - Sự tham gia trong quản lý rừng và tài nguyên rừng được hiểu là sự tham gia có hiệu quả trong việc ban hành và thực hiện các quyết định, hoặc trực tiếp, hoặc thông qua các đại diện hợp pháp. Sự tham gia của các thành phần khác nhau vào quá trình xây dựng và thực thi các chính sách liên quan đến quản lý và bảo vệ rừng được khung pháp luật quốc tế ủng hộ và được luật pháp của Việt Nam thừa nhận. Hiểu một cách đơn giản và tổng quát về sự tham gia là: “Sự tham gia là quá trình cùng chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi trong các hoạt động LNXH thông qua các chương trình phát triển lâm nghiệp, trong đó trách nhiệm quyết định là cao nhất”.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện dựa trên lý luận về tiếp cận hệ thống, quan điểm sinh thái - nhân văn, quan điểm bảo tồn - phát triển và tiếp cận có sự tham gia. - Quan điểm tiếp cận hệ thống: Hệ thống được hiểu là một cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, nó bao gồm nhiều bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách có tổ chức và trật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tự, tồn tại và vận động theo những quy luật thống nhất. Một hệ thống luôn bao gồm những hệ thống thành phần (nhỏ hơn) hay còn gọi là hệ thống phụ. Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong hệ thống và mỗi hệ thống lại nằm trong hệ thống lớn hơn.
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế - xã hội và tác động tới hệ thống tự nhiên. Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi mức độ tác động của người dân địa phương gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như: sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc… Sự tác động này cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trước mắt và hiệu quả kinh tế thường quyết định tới hình thức sử dụng TNR của người dân địa phương. Ngược lại, mức độ giàu có và đa dạng của TNR cũng tác động mạnh mẽ tới nguồn thu của người dân địa phương. Chính vì mối quan hệ chặt chẽ giữa những tác động của người dân địa phương đến TNR với các yếu tố kinh tế nên có thể làm giảm thiểu tác động bất lợi tới TNR bằng cách tác động vào những yếu tố kinh tế.
Đây là lý do đề tài nghiên cứu các nguyên nhân kinh tế dẫn tới những tác động tiêu cực của người dân địa phương đến TNR và nghiên cứu đề xuất giải pháp kinh tế để giảm thiểu sự tác động tiêu cực này. TNR là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối quan hệ tương tác chặt chẽ. TNR vốn tồn tại khách quan và vận động theo những quy luật tự nhiên. Vì vậy, để bảo tồn TNR, những tác động của con người phải phù hợp với quy luật tự nhiên và giảm thiểu những tác động tiêu cực tới nó.
- Quan điểm sinh thái - nhân văn: Các hoạt động kinh tế xã hội trong cộng đồng hay trong mỗi hộ gia đình (HGĐ) đều rất đa dạng và phong phú. Nó phản ánh đặc điểm sinh thái và mối quan hệ kinh tế - xã hội. Điều này chỉ ra rằng các hoạt động trong cộng đồng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố và có một yếu tố nào đó giữ vai trò LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 quan trọng trong cộng đồng này vào thời điểm này nhưng lại không phải quan trọng trong thời điểm khác hoặc trong cộng đồng khác. Quan hệ giữa tác động tiêu cực của cộng đồng đến TNR và phát triển kinh tế - xã hội địa phương - bảo tồn TNR là quan hệ có xu hướng nghịch.
Sự tác động tiêu cực của người dân địa phương vào TNR đều có cơ sở sinh thái và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội. Các yếu tố vật lý sinh học, được chia làm 2 loại: Những yếu tố không thể kiểm soát được như khí hậu, thủy văn, địa hình. và những yếu tố có thể kiểm soát được hoặc hạn chế được như xói mòn, lũ lụt, sâu bệnh, lửa rừng, hạn hán. Các yếu tố kinh tế như sinh kế, mức sống của người dân địa phương, nhu cầu thị trường.
Những yếu tố này rất có ý nghĩa đối với sự tác động của người dân địa phương tới TNR.