Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc tỉnh Yên Bái được thành lập theo Quyết định số 512/QĐ-UBND ngày 09/10/2006, sở hữu tổng diện tích tự nhiên 16.950 ha rừng nguyên sinh có giá trị bảo tồn nguồn gen và đa dạng sinh học đặc biệt quan trọng vùng Tây Bắc. Nằm trọn trong phân khu trung tâm của khu bảo tồn, xã Nà Hẩu có tổng diện tích tự nhiên 5.639,6 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 91,3% với độ che phủ rừng đạt mức 89,3%. Mặc dù sở hữu diện tích rừng tự nhiên rộng lớn, địa bàn nghiên cứu lại là nơi cư trú của 447 hộ dân với gần 100% là đồng bào dân tộc H'Mông định cư từ những năm 1980, trong đó tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm tới 45% và hộ cận nghèo chiếm 15%. Sự phụ thuộc mật thiết vào nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng tập quán canh tác truyền thống đã tạo ra áp lực sinh thái vô cùng gay gắt lên hệ sinh thái rừng đặc dụng.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là sự xung đột sâu sắc giữa mục tiêu bảo tồn nguyên vẹn đa dạng sinh học và nhu cầu sinh kế bức thiết của cộng đồng dân cư sinh sống trong vùng lõi. Đề tài tập trung xác định các hình thức, mức độ tác động của người dân đến tài nguyên rừng, phân tích nguyên nhân kinh tế - xã hội dẫn tới các tác động này, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý bảo vệ rừng bền vững. Nghiên cứu được thực hiện tại xã Nà Hẩu từ tháng 6/2019 đến tháng 10/2019. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc để nâng cao hiệu quả quản trị 3.751,6 ha rừng giao khoán, giúp các nhà quản lý hoàn thiện chính sách đồng quản lý tài nguyên rừng và phát triển sinh kế bền vững cho các cộng đồng vùng đệm tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng ba lý thuyết và quan điểm khoa học trụ cột: quan điểm tiếp cận hệ thống, quan điểm sinh thái - nhân văn và quan điểm bảo tồn - phát triển. Theo lý thuyết tiếp cận hệ thống, tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng là mắt xích tương tác giữa hệ thống kinh tế - xã hội và hệ sinh thái tự nhiên. Mức độ tác động tỷ lệ thuận với nhu cầu sinh kế, lợi nhuận trước mắt và phương thức sử dụng đất. Quan điểm sinh thái - nhân văn giải thích mối quan hệ nghịch chiều giữa bảo tồn và phát triển tự phát, khẳng định mọi giải pháp can thiệp phải phù hợp với quy luật sinh thái học và phong tục văn hóa bản địa. Luận văn kế thừa mô hình bảo tồn - phát triển của Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999) gồm 3 hướng tiếp cận: tạo sinh kế thay thế, cải thiện điều kiện kinh tế và thúc đẩy cộng đồng tham gia quy hoạch; đồng thời vận dụng khung 7 cấp độ tham gia của Hosley (1996) trong quản lý rừng cộng đồng.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng:

  • Tài nguyên rừng: Hệ sinh thái tự nhiên có khả năng tái tạo, cung cấp lâm sản, dịch vụ môi trường và bảo vệ lưu vực sông Hồng.
  • Sự tham gia của người dân: Tiến trình chủ động chia sẻ trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích giữa cộng đồng với cơ quan quản lý nhà nước.
  • Quản lý rừng cộng đồng: Phương thức tổ chức dựa trên thiết chế làng bản và dòng họ để bảo vệ tài nguyên bền vững.
  • Đồng quản lý rừng đặc dụng: Cơ chế hợp tác chia sẻ quyền lực và trách nhiệm giữa Ban quản lý khu bảo tồn và cộng đồng địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình điều tra hỗn hợp kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa:

  • Cỡ mẫu điều tra: Thực hiện phỏng vấn sâu 42 hộ gia đình đại diện cho 3 nhóm kinh tế (khá, trung bình, nghèo) tại 3 thôn nòng cốt gồm thôn Bản Tát, thôn Ba Khuy và thôn Trung Tâm; tổ chức 6 cuộc thảo luận nhóm tập trung với quy mô 5 - 7 người/nhóm bao gồm lãnh đạo thôn, đại diện các đoàn thể và già làng; thiết lập 5 tuyến điều tra thực địa xuất phát từ trung tâm các thôn vào sâu trong rừng.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo nhóm thu nhập và phân bố không gian địa lý nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất cho cộng đồng H'Mông vùng lõi.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Sử dụng bộ công cụ Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), lịch thời vụ, sơ đồ Venn và ma trận phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT). Việc phối hợp các công cụ này với phần mềm phân tích Excel cho phép lượng hóa chính xác mức độ thiệt hại tài nguyên và phản ánh trung thực nguyện vọng của người dân địa phương.
  • Timeline nghiên cứu: Thu thập số liệu ngoại nghiệp và điều tra thực địa diễn ra từ tháng 6/2019, sau đó tiến hành xử lý nội nghiệp và hoàn thiện luận văn vào tháng 10/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về hiện trạng tài nguyên và tác động nhân sinh tại xã Nà Hẩu:

Thứ nhất, cơ cấu sử dụng đất có sự chênh lệch lớn giữa đất lâm nghiệp và đất sản xuất nông nghiệp. Diện tích đất lâm nghiệp đạt 5.150,23 ha (chiếm 91,3% diện tích tự nhiên xã), trong đó đất có rừng là 5.036 ha (chiếm 97,78% đất lâm nghiệp). Ngược lại, diện tích đất nông nghiệp chỉ có 426,72 ha (chiếm 7,56%), bình quân đất lúa nước chỉ đạt 285 m2/khẩu (tương đương khoảng 1 sào/người). Sự thiếu hụt trầm trọng đất canh tác lúa nước 2 vụ là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy người dân phá rừng làm nương rẫy.

Thứ hai, các vụ vi phạm lâm luật đã giảm mạnh tới 84,21% trong giai đoạn 2015 - 2019. Thống kê của Hạt Kiểm lâm cho thấy số vụ vi phạm hành chính giảm từ 19 vụ (năm 2015) xuống còn 14 vụ (năm 2016), 2 vụ (năm 2017), 7 vụ (năm 2018) và chỉ còn 3 vụ (năm 2019). Hành vi phá rừng làm nương rẫy đã giảm triệt để từ 13 vụ năm 2015 về 0 vụ trong các năm 2017, 2018 và 2019. Tuy nhiên, các vụ khai thác và vận chuyển gỗ quý trái phép vẫn chiếm 100% tổng số vụ vi phạm trong giai đoạn 2017 - 2019.

Thứ ba, công tác giao khoán bảo vệ rừng phát huy hiệu quả bảo tồn rõ nét với 6 hợp đồng ký kết cho 130 hộ gia đình tại 3 thôn bản, quản lý tổng diện tích 3.751,6 ha rừng tự nhiên. Tình trạng cháy rừng được kiểm soát hoàn toàn, không ghi nhận vụ cháy nào từ năm 2016 đến năm 2019.

Thứ tư, các tác động suy thoái thầm lặng vẫn tiếp diễn phức tạp bao gồm: chăn thả gia súc tự do trong rừng tự nhiên làm nén chặt tầng đất mặt và gãy đổ cây non tái sinh; săn bắt thú nhỏ bằng bẫy dây thép; khai thác quá mức lâm sản ngoài gỗ (măng, mộc nhĩ, nấm hương, cây thuốc); và mở rộng diện tích trồng thảo quả dưới tán rừng làm suy thoái thảm mục và tầng cây tái sinh bản địa.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các tác động tiêu cực bắt nguồn từ bài toán sinh kế khi tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo lên tới 60%, trình độ dân trí chưa đồng đều và nguồn thu từ tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng còn thấp. Về mặt tổ chức, cộng đồng xã Nà Hẩu duy trì mạng lưới xã hội chặt chẽ với 5 dòng họ chính và các tổ bảo vệ rừng gồm 5 - 8 người tại 3 thôn. So sánh với các nghiên cứu của Trần Ngọc Lân (1999) tại Pù Mát hay Vũ Hoài Minh (2002) tại miền Trung, luận văn chỉ ra rằng quản lý rừng cộng đồng tại Nà Hẩu có tính gắn kết dòng tộc cao hơn, nhưng mức độ tham gia mới dừng ở bậc 3 (tham gia tư vấn) trong thang bậc Hosley chứ chưa đạt đến quyền tự quyết.

Về phương pháp biểu diễn số liệu, các dữ liệu diễn biến vi phạm lâm luật được cấu trúc trực quan qua biểu đồ cột chồng nhiều giai đoạn để làm nổi bật tỷ trọng giảm dần của hành vi phá rừng làm rẫy so với hành vi khai thác gỗ. Cơ cấu phân bổ đất đai được minh họa bằng biểu đồ tròn tỷ lệ phần trăm, kết hợp bảng ma trận SWOT chi tiết giúp so sánh đa chiều giữa nguồn lực nội tại của cộng đồng H'Mông và áp lực bảo tồn của khu bảo tồn thiên nhiên.

Đề xuất và khuyến nghị

Hệ thống 4 giải pháp đồng bộ nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực và thúc đẩy đồng quản lý rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu bao gồm:

  1. Hoàn thiện quy hoạch phân vùng sinh thái và khoanh định vùng chăn thả gia súc tập trung: Tiến hành quy hoạch khu vực chăn thả bán tự nhiên quy mô 150 - 200 ha tại vùng đệm và đất lâm nghiệp chưa có rừng, tách biệt khỏi phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Mục tiêu giảm 90% số lượng gia súc thả rông tự do trong lõi rừng. Thời gian thực hiện từ năm 2020 đến 2022. Chủ thể chủ trì là Ủy ban nhân dân huyện Văn Yên phối hợp với Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu và Ủy ban nhân dân xã Nà Hẩu.

  2. Nâng cao giá trị chi trả dịch vụ môi trường rừng và phát triển chuỗi giá trị sinh kế: Tăng mức tiền nhận khoán bảo vệ rừng gắn với hỗ trợ kỹ thuật thâm canh cây quế hữu cơ, nuôi ong mật dưới tán rừng và bảo tồn cây thuốc bản địa. Mục tiêu nâng thu nhập bình quân của 130 hộ nhận khoán thêm 25 - 30% vào năm 2025. Thời gian thực hiện từ năm 2020 đến 2025. Chủ thể thực hiện là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái kết hợp Chi cục Kiểm lâm và Ban Quản lý khu bảo tồn.

  3. Thể chế hóa mô hình đồng quản lý rừng gắn với hương ước làng bản và vai trò dòng họ: Tích hợp quy ước bảo vệ rừng vào luật tục của 5 dòng họ người H'Mông; kiện toàn các tổ tuần tra bảo vệ rừng 3 thôn với tần suất tuần tra định kỳ 2 - 4 lần/tháng. Thời gian triển khai từ quý I năm 2020 và duy trì liên tục hàng năm. Chủ thể chịu trách nhiệm là Ủy ban nhân dân xã Nà Hẩu, Hạt Kiểm lâm huyện Văn Yên và các trưởng thôn, già làng.

  4. Nâng cấp hệ thống thủy lợi nhỏ và chuyển giao kỹ thuật thâm canh lúa nước: Đầu tư kiên cố hóa hệ thống kênh mương dẫn nước tại các vùng trũng thung lũng Bản Tát và Trung Tâm, chuyển dịch diện tích canh tác 1 vụ sang lúa nước 2 vụ năng suất cao, giúp tăng sản lượng lương thực 15 - 20% cho 447 hộ dân. Thời gian thực hiện trong giai đoạn 2021 - 2023. Chủ thể chủ trì là Phòng Nông nghiệp huyện Văn Yên phối hợp với các hợp tác xã nông nghiệp địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia: Cung cấp bài học kinh nghiệm và dữ liệu thực chứng trong việc phân bổ 3.751,6 ha diện tích khoán bảo vệ rừng cho 130 hộ gia đình, giúp các ban quản lý thiết kế phương án giao khoán và giám sát tuần tra hiệu quả tại các vùng lõi rừng đặc dụng.

  • Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học ngành Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp khung lý thuyết hệ thống kết hợp phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA), ma trận SWOT và phương pháp điều tra 5 tuyến thực địa để làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về lâm nghiệp xã hội và sinh thái học cảnh quan.

  • Chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm các huyện miền núi: Hỗ trợ cán bộ quản lý cơ sở xây dựng kế hoạch phân vùng kinh tế - sinh thái, giải quyết bài toán mâu thuẫn đất sản xuất 285 m2/khẩu và chuyển đổi cơ cấu cây trồng có giá trị cao như cây quế tại các xã vùng cao.

  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa để xây dựng các dự án tài trợ phát triển sinh kế cộng đồng dân tộc thiểu số gắn với bảo tồn 516 loài thực vật và 129 loài động vật hoang dã nguy cấp.

Câu hỏi thường gặp

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu sở hữu giá trị đa dạng sinh học nổi bật như thế nào? Khu bảo tồn lưu giữ 80% diện tích rừng nguyên sinh trên tổng diện tích 16.950 ha với 2 kiểu thảm thực vật chính. Hệ thực vật ghi nhận 516 loài thuộc 332 chi, trong đó có 27 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam. Hệ động vật có xương sống gồm 129 loài thuộc 54 họ, với 28 loài trong Sách Đỏ Việt Nam và 30 loài thuộc Nghị định bảo vệ động vật hoang dã.

Nguyên nhân chính dẫn đến các tác động tiêu cực của người dân lên rừng Nà Hẩu là gì? Nguyên nhân chủ yếu do diện tích đất canh tác lúa nước quá ít, chỉ đạt bình quân 285 m2/khẩu kết hợp với tỷ lệ hộ nghèo lên tới 45%. Điều này buộc người dân phải phụ thuộc vào việc khai thác lâm sản ngoài gỗ, chăn thả gia súc tự do và canh tác nương rẫy để giải quyết nhu cầu lương thực và chất đốt hàng ngày.

Công tác giao khoán bảo vệ rừng tại xã Nà Hẩu đã đạt được những kết quả cụ thể nào? Ban quản lý đã triển khai 6 hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên với tổng diện tích 3.751,6 ha cho 130 hộ gia đình tại 3 thôn bản. Mô hình này đã nâng cao trách nhiệm của cộng đồng, duy trì mạng lưới tuần tra 2 lần/tháng và ngăn ngừa triệt để nạn cháy rừng trong giai đoạn 2016 - 2019.

Tình hình vi phạm lâm luật tại địa phương thay đổi như thế nào qua giai đoạn 2015 - 2019? Số vụ vi phạm lâm luật đã giảm mạnh từ 19 vụ năm 2015 xuống còn 3 vụ năm 2019 (giảm 84,21%). Đặc biệt, hành vi phát rừng làm nương rẫy giảm từ 13 vụ năm 2015 xuống 0 vụ trong các năm 2017 - 2019, cho thấy hiệu quả chuyển biến tích cực trong nhận thức pháp luật của người dân.

Tại sao mô hình đồng quản lý rừng là giải pháp then chốt cho khu bảo tồn thiên nhiên? Mô hình đồng quản lý giúp dung hòa xung đột giữa bảo tồn đa dạng sinh học và nhu cầu kinh tế của người dân. Bằng cách trao quyền tham gia xây dựng quy ước bảo vệ rừng gắn với luật tục của 5 dòng họ, người dân được chia sẻ lợi ích từ dịch vụ môi trường rừng và trở thành lực lượng bảo vệ rừng tự giác.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận sinh thái - nhân văn và phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân trong quản lý rừng đặc dụng tại vùng núi phía Bắc.
  • Đánh giá chính xác thực trạng phân bố tài nguyên tại xã Nà Hẩu với 5.036 ha đất có rừng (độ che phủ 89,3%) tương phản với quỹ đất lúa nước hạn chế chỉ 285 m2/khẩu của 447 hộ dân.
  • Minh chứng hiệu quả giảm 84,21% số vụ vi phạm lâm luật trong giai đoạn 2015 - 2019 nhờ thực hiện tốt 6 hợp đồng khoán bảo vệ 3.751,6 ha rừng tự nhiên cho 130 hộ gia đình.
  • Xác định vai trò quản trị then chốt của các tổ chức làng bản và 5 dòng họ người H'Mông trong việc bảo tồn vốn rừng nguyên sinh và kiểm soát nguy cơ cháy rừng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi gồm: quy hoạch bãi chăn thả 150 - 200 ha, nâng cao sinh kế từ cây quế và lâm sản ngoài gỗ, thể chế hóa đồng quản lý rừng, và kiên cố hóa thủy lợi tăng năng suất cây trồng.

Kế hoạch hành động ưu tiên trong giai đoạn 2020 - 2025 là hoàn thiện quy chế đồng quản lý rừng cấp xã, tích hợp các công cụ chi trả dịch vụ môi trường rừng nhằm đảm bảo mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái bền vững. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và chính quyền địa phương nên khai thác ngay các phát hiện thực chứng và mô hình của luận văn để áp dụng vào công tác bảo tồn tài nguyên rừng tại địa phương.