Tổng quan luận án
Tài nguyên đất đai và tài nguyên nước là hai thành phần môi trường gắn kết mật thiết trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tại tỉnh Thái Nguyên, thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 04 tháng 05 năm 2007, cơ cấu kinh tế dịch chuyển mạnh mẽ theo hướng giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp và thủy sản (xuống còn 9 - 10%), tăng tỷ trọng công nghiệp (đạt 47 - 48%) và dịch vụ - xây dựng (đạt 42 - 43%). Sự chuyển dịch này thúc đẩy quá trình biến đổi sử dụng đất diễn ra nhanh chóng, đặc biệt trên lưu vực sông Công — nơi phân bố các cơ sở sản xuất nông lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và khu vực du lịch trọng điểm của tỉnh. Sông Công và hồ Núi Cốc đóng vai trò là nguồn cấp nước ngọt phục vụ hoạt động sản xuất, sinh hoạt và du lịch cho các địa phương trong và ngoài lưu vực. Quá trình chuyển đổi đất đai đã tác động trực tiếp đến tài nguyên nước cả về trữ lượng và chất lượng, gây khó khăn cho công tác phân bổ nguồn nước và bảo vệ môi trường nước. Trước thực tế đó, nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hiểu đã thực hiện luận án tiến sĩ với đề tài: "Nghiên cứu tác động của biến đổi sử dụng đất đến quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Công" thuộc chuyên ngành Môi trường trong phát triển bền vững tại Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Văn Cự và TS. Võ Thanh Sơn.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn tác động của biến đổi sử dụng đất đến nhu cầu sử dụng nước và tải lượng các chất gây ô nhiễm môi trường nước; trên cơ sở đó đề xuất công cụ hỗ trợ trong công tác quản lý tài nguyên nước theo định hướng phát triển bền vững trên lưu vực sông Công của tỉnh Thái Nguyên.
Văn bản luận án xác định hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm năm nội dung:
- Thực trạng và xu hướng biến đổi sử dụng đất trên lưu vực sông Công diễn ra như thế nào?
- Biến đổi sử dụng đất có tác động như thế nào đến nhu cầu sử dụng nước ở lưu vực sông Công?
- Biến đổi sử dụng đất có tác động như thế nào đến tải lượng các chất gây ô nhiễm môi trường nước ở lưu vực sông Công?
- Thực trạng công tác quản lý tài nguyên nước trên lưu vực sông Công đã và đang được tổ chức thực hiện như thế nào?
- Công cụ nào để có thể quản lý và sử dụng bền vững được tài nguyên đất và tài nguyên nước ở lưu vực sông Công?
Luận điểm bảo vệ của tác giả gồm hai mệnh đề chính:
- Thứ nhất: Biến đổi sử dụng đất làm thay đổi nhu cầu sử dụng nước và làm thay đổi tải lượng các chất gây ô nhiễm môi trường nước; do đó, biến đổi sử dụng đất tác động trực tiếp đến công tác quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước trên lưu vực sông Công.
- Thứ hai: Để quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước ở lưu vực sông Công, việc xây dựng một hệ thống thông tin quản lý tổng hợp tài nguyên đất và nước là cần thiết.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của biến đổi sử dụng đất đến nhu cầu sử dụng nước và tải lượng các chất gây ô nhiễm môi trường nước trên lưu vực sông Công.
- Phạm vi không gian: Ranh giới tự nhiên của lưu vực sông Công thuộc địa bàn tỉnh Thái Nguyên, bao gồm khu vực thượng lưu, hồ Núi Cốc và hạ lưu, trải dài qua các huyện, thành phố, thị xã liên quan.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng biến đổi giai đoạn 2010 - 2015, tính toán dự báo cho giai đoạn 2015 - 2020 và định hướng quy hoạch đến năm 2030.
- Phạm vi nội dung: Tập trung khảo sát 6 loại hình sử dụng đất chính phản ánh hoạt động nhân sinh trên lưu vực, bao gồm: đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất ở (nông thôn và đô thị), đất dịch vụ - công cộng, và đất sản xuất công nghiệp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được xây dựng toàn diện qua bốn nhóm vấn đề nghiên cứu chính:
Thứ nhất, các nghiên cứu về biến đổi sử dụng đất:
Trên thế giới, các tác giả ban đầu nhận diện biến động đất đai qua viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS), sau đó phát triển theo hướng phân tích nguyên nhân và động lực. Fu và Ye (2006) chỉ ra biến đổi khí hậu và hoạt động con người là hai nhân tố chính chi phối biến động đất đai toàn cầu. Ye và Feng xác định mối tương quan chặt chẽ giữa độ cao và độ dốc với thay đổi sử dụng đất; Kim chỉ ra địa hình là yếu tố quyết định chuyển đổi đất nông nghiệp và mở rộng rừng trồng. Nghiên cứu tại Lào ghi nhận tác động của chính sách chính phủ đến biến đổi đất canh tác. Mohanty phân tích tốc độ đô thị hóa nhanh tại Ấn Độ chi phối biến đổi đất đai vùng ven đô. Về mặt mô hình hóa, các tác giả quốc tế ứng dụng mô hình tế bào tự động autocell (Wu và Webster, Clarke và cộng sự), phân tích thống kê không gian (Wang, Quasim, Nguyen, Muller và Munroe), và mô hình đa tác tử (Agent-based model) trên các môi trường Netlogo, Cormas, GAMA. Tác giả tổng kết ba phương pháp đánh giá biến đổi đất: (1) So sánh bản đồ hiện trạng sử dụng đất từ đo đạc thực địa; (2) Phân tích tư liệu viễn thám qua xử lý trước phân loại (PCA, NDVI, CVA) hoặc sau phân loại (ma trận chéo); (3) So sánh số liệu thống kê diện tích hàng năm. Tại Việt Nam, Nguyễn Đình Dương ứng dụng thuật toán GASC phân tích ảnh viễn thám đa cực; Ngô Thế Ân ứng dụng mô hình tác tố đánh giá phản hồi chính sách; các nghiên cứu khác áp dụng mô hình hồi quy logistic phân tích biến động rừng Hòa Bình giai đoạn 1994 - 2013, phân tích nhân tố kết hợp GIS của Nguyễn Cao Huần, đánh giá suy thoái đất của Hội Khoa học Đất Việt Nam, Nguyễn Đình Bồng, Phạm Văn Cự, và nghiên cứu chuyển đổi đất lúa sang nuôi tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long của Lê Quang Trí và cộng sự.
Thứ hai, các nghiên cứu về biến đổi sử dụng đất liên quan đến nhu cầu nước:
Các công trình quốc tế nhấn mạnh biến đổi đất đai tác động đến chu trình thủy văn, thoát hơi nước và bốc hơi mặt đất. Andrew C. Worthington, Arbues, Hoffmann và cộng sự nghiên cứu nhu cầu nước sinh hoạt và độ co giãn theo giá; FAO, WHO, UNEP, JICA xác lập các định mức dùng nước. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu ứng dụng các mô hình thủy văn để tính toán cân bằng nước lưu vực: Lê Đức Thường và Huỳnh Thị Lan Hương ứng dụng mô hình NAM, CROPWAT, MIKE BASIN cho lưu vực sông Ba; mô hình MIKE BASIN tính cân bằng nước lưu vực sông Cái Phan Rang; mô hình NAM, MIKE BASIN và MIKE-11 tính toán cân bằng nước lưu vực sông Đồng Nai trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Thứ ba, các nghiên cứu về biến đổi sử dụng đất liên quan đến tải lượng môi trường nước:
Các nghiên cứu quốc tế tại Ohio (Mỹ), Coweeta Creek (Bolstad và Swank, 1997) và sông Little Miami (Tong, 1990) chứng minh dòng chảy tràn từ đất đô thị và đất nông nghiệp là nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn không điểm. Về phương pháp định lượng, bốn phương pháp tính tải lượng được tổng kết gồm: phương pháp hệ số phát thải (đơn vị gốc), phương pháp theo diện tích, đo đạc thực tế, và quy định kinh nghiệm. Tại Việt Nam, phương pháp đánh giá nhanh tải lượng ô nhiễm hữu cơ (BOD, COD, N, P, TSS) được ứng dụng tại đầm Thị Nại, sông Thị Tính, vịnh Đà Nẵng, sông Nhuệ - Đáy, và lưu vực sông Bé.
Thứ tư, nghiên cứu về quản lý tổng hợp tài nguyên nước và công cụ quản lý:
Kể từ Hội nghị Dublin và Rio de Janeiro (1992), quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) lấy lưu vực sông làm đơn vị quản lý đã trở thành nguyên tắc quốc tế. Loucks (1994), Chaves và Alipaz (2006) phát triển Chỉ số bền vững (Sustainability Index); Cai và cộng sự (2002) ứng dụng mô hình GA-LP trên sông Syr Darya; Ủy hội sông Mêkông (MRC) triển khai Kế hoạch phát triển lưu vực BDP 2; JICA xây dựng Hệ thống kiểm soát tổng tải lượng ô nhiễm (TPLCS). Bùi Công Quang tổng kết kinh nghiệm quản lý nước nông nghiệp tại các nước OECD như Canada và Pháp. Về công cụ kỹ thuật, hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) dần thay thế hệ thống quản lý thông tin truyền thống (MIS).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
Phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây đánh giá biến đổi sử dụng đất và tài nguyên nước một cách riêng rẽ, hoặc chỉ tính toán nhu cầu nước cho từng ngành kinh tế đơn lẻ mà chưa đặt các hoạt động này hoàn toàn trên quan điểm sử dụng đất. Mặt khác, các nghiên cứu tính tải lượng ô nhiễm thường tiến hành tại các điểm cục bộ hoặc chưa tích hợp được không gian biến đổi đất với biến động tải lượng trên toàn lưu vực. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách: tiếp cận đồng thời nhu cầu nước và tải lượng ô nhiễm hoàn toàn dựa trên sự chuyển đổi các lớp sử dụng đất, áp dụng phương pháp đánh giá nhanh kết hợp GIS vector để định lượng tương quan không gian - thời gian, và chuyển giao kết quả thành một hệ thống thông tin quản lý tổng hợp tài nguyên đất và nước trên lưu vực sông Công.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết và khái niệm chuyên ngành:
- Khái niệm về tài nguyên đất, sử dụng đất (LU), biến đổi sử dụng đất (LUC) và quản lý đất đai bền vững (SLM) theo định nghĩa của FAO và UNEP. Phân loại đất đai tại Việt Nam tuân thủ Luật Đất đai năm 2013, phân chia thành ba nhóm chính: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng.
- Khái niệm về tài nguyên nước, chất lượng nước, ô nhiễm nước và các thông số chất lượng (BOD, COD, TOC, TSS, Nitơ, Phốt pho). Hệ thống thuật ngữ ô nhiễm nguồn nước gồm: tải ô nhiễm, nguồn phát thải, tải lượng ô nhiễm, tải lượng phát thải, tải lượng tiếp nhận và hiện tượng phú dưỡng.
- Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước dựa trên việc cân bằng ba trụ cột: hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và bền vững môi trường. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) theo Chương trình nghị sự 21 và GWP-2000, xem xét đồng thời hệ tự nhiên và hệ con người. Quản lý tổng hợp lưu vực sông theo Luật Tài nguyên nước năm 2013 và quan điểm của J.Buston, nhấn mạnh việc quản lý thống nhất giữa đất và nước theo ranh giới đường chia nước tự nhiên.
Cách tiếp cận nghiên cứu:
Tác giả kết hợp ba cách tiếp cận: tiếp cận phát triển bền vững, tiếp cận hệ thống và tiếp cận liên ngành (kết hợp khoa học môi trường, khoa học đất, thủy văn học và công nghệ thông tin địa lý).
Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thu thập và kế thừa dữ liệu: Kế thừa bản đồ hiện trạng sử dụng đất các năm 2010, 2015, bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của tỉnh Thái Nguyên; các số liệu thống kê đất đai, niên giám thống kê, báo cáo kinh tế - xã hội; kết hợp khảo sát thực địa trên lưu vực sông Công.
- Phương pháp Hệ thống thông tin địa lý (GIS): Sử dụng phần mềm GIS mã nguồn mở để xác định ranh giới lưu vực sông Công; phân tích không gian chồng xếp các lớp bản đồ vector hiện trạng và quy hoạch để thành lập ma trận biến đổi sử dụng đất; không gian hóa và kết xuất các bản đồ phân bố nhu cầu dùng nước và tải lượng ô nhiễm cấp huyện.
- Phương pháp tính nhu cầu sử dụng nước: Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh dựa trên định mức cấp nước quy chuẩn của Việt Nam áp dụng cho 6 loại đất:
- Đất trồng lúa: Tính toán dựa trên TCVN 8641:2011 và TCVN 9168:2012 (định mức tưới dưỡng lúa Bắc Bộ 6.000 - 7.500 m3/ha/vụ; hệ số tưới toàn vụ 6.515,6 m3/ha/vụ; canh tác 2 vụ đạt 12.000 - 14.000 m3/ha/năm).
- Đất trồng cây hàng năm khác và cây lâu năm: Định mức tưới theo TCVN 8641:2011 cho từng loại cây trồng (lạc, đậu tương: 2.000 m3/ha/vụ; khoai tây, khoai lang: 1.000 - 1.500 m3/ha/vụ; rau màu: 1.000 - 2.500 m3/ha/vụ; cây ăn quả: 3.000 m3/ha).
- Đất ở: Áp dụng TCXDVN 33:2006 phân theo khu vực đô thị (200 - 270 lít/người/ngày) và khu vực nông thôn (40 - 60 lít/người/ngày hoặc thị trấn 80 - 150 lít/người/ngày).
- Đất dịch vụ, công cộng: Tính bằng 10% nhu cầu nước sinh hoạt (TCXDVN 33:2006) kết hợp định mức nước cho khách du lịch là 200 lít/người/ngày theo Quyết định số 38/QĐ-TTg.
- Đất sản xuất công nghiệp: Áp dụng định mức theo TCXDVN 33:2006 từ 22 - 45 m3/ha/ngày.
- Phương pháp tính tải lượng ô nhiễm môi trường nước: Áp dụng phương pháp hệ số phát thải (đơn vị gốc) kết hợp diện tích:
- Đất sản xuất nông nghiệp (lúa, cây hàng năm khác, cây lâu năm): Tính toán theo hệ số phát thải trên một hecta của Bộ Môi trường Nhật Bản (đất lúa: 6,4 kg COD/ha/năm, 28 kg T_N/ha/năm, 0,37 kg T_P/ha/năm; đất cây hàng năm khác và cây lâu năm: 3,7 kg COD/ha/năm, 28 kg T_N/ha/năm, 0,37 kg T_P/ha/năm).
- Đất ở: Sử dụng hệ số phát thải bình quân đầu người theo công bố của UNEP (1984) và San Diego-MacGlone (2000): 20 - 55 kg COD/người/năm, 10 - 25 kg BOD5/người/năm, 4 kg T_N/người/năm, 0,5 - 1,1 kg T_P/người/năm, và 20 - 30 kg TSS/người/năm.
- Đất dịch vụ, công cộng: Bằng 10% tải lượng sinh hoạt cộng với tải lượng phát thải từ khách du lịch tính theo hệ số của UNEP.
- Đất sản xuất công nghiệp: Tính theo công thức lượng nước thải nhân với nồng độ chất ô nhiễm trung bình trong nước thải công nghiệp tại Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định (COD: 320 mg/l, BOD5: 140 mg/l, T_N: 60 mg/l, T_P: 80 mg/l, TSS: 220 mg/l).
- Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu, phân tích ma trận chuyển đổi đất đai, biểu đồ tương quan giữa diện tích đất và các chỉ tiêu nước.
- Phương pháp xây dựng hệ thống thông tin: Thiết kế cơ sở dữ liệu trên hệ quản trị PostgreSQL (PostGres SQL) tích hợp tiện ích không gian PostGIS và lập trình các giao diện chức năng phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên đất và nước.
Nguồn tư liệu và dữ liệu sử dụng:
- Hồ sơ, số liệu kiểm kê và thống kê đất đai các cấp của tỉnh Thái Nguyên.
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất các năm 2010, 2015 và quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020.
- Các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia: TCVN 8641:2011, TCVN 9168:2012, TCXDVN 33:2006, các văn bản của Bộ TN&MT và quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
- Dữ liệu quan trắc môi trường và tài nguyên nước lưu vực sông Công.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về mối quan hệ tương tác giữa sử dụng đất và tài nguyên nước trong khuôn khổ quản lý tổng hợp lưu vực sông. Tác giả phân tích các khái niệm nền tảng về đất đai, phân loại đất đai theo Luật Đất đai năm 2013 của Việt Nam, các khái niệm về tài nguyên nước, các dạng ô nhiễm và hiện tượng phú dưỡng. Tác giả khảo cứu tiến trình phát triển của quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) từ Hội nghị thượng đỉnh Trái đất năm 1992, khung phân tích của Ủy ban Tư vấn Kỹ thuật (TAC) bao gồm hai cấp độ: hệ tự nhiên và hệ con người. Chương này tổng kết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về biến đổi sử dụng đất, các phương pháp tính nhu cầu sử dụng nước và các mô hình tính toán tải lượng ô nhiễm môi trường nước. Tác giả chỉ rõ các tồn tại của các nghiên cứu trước đây là tiếp cận đơn lẻ, thiếu sự gắn kết không gian giữa biến đổi đất và các chỉ số tài nguyên nước, đồng thời khẳng định sự cần thiết phải lựa chọn cách tiếp cận quản lý tích hợp đất và nước theo ranh giới lưu vực tự nhiên đối với sông Công.
| Nhóm thông số |
Đối tượng / Loại đất |
Giá trị định mức / Hệ số áp dụng |
Nguồn tham chiếu trong văn bản |
| Nhu cầu nước tưới |
Đất trồng lúa |
6.515,6 m3/ha/vụ (12.000 - 14.000 m3/ha/năm) |
TCVN 9168:2012, TCVN 8641:2011 |
| Nhu cầu nước tưới |
Cây hàng năm khác |
1.000 - 2.500 m3/ha/vụ (lạc, đậu tương, rau) |
TCVN 8641:2011 |
| Nhu cầu nước tưới |
Cây lâu năm |
~3.000 m3/ha (cây ăn quả) |
TCVN 8641:2011 |
| Nhu cầu nước sinh hoạt |
Đất ở đô thị |
200 - 270 lít/người/ngày |
TCXDVN 33:2006 |
| Nhu cầu nước sinh hoạt |
Đất ở nông thôn |
40 - 60 lít/người/ngày |
TCXDVN 33:2006 |
| Nhu cầu nước công nghiệp |
Đất sản xuất công nghiệp |
22 - 45 m3/ha/ngày |
TCXDVN 33:2006 |
| Nhu cầu nước dịch vụ |
Đất dịch vụ, công cộng |
10% nước sinh hoạt + 200 l/khách du lịch/ngày |
TCXDVN 33:2006, QĐ 38/QĐ-TTg |
| Hệ số phát thải nông nghiệp |
Đất trồng lúa |
6,4 kg COD; 28 kg T_N; 0,37 kg T_P /ha/năm |
Bộ Môi trường Nhật Bản |
| Hệ số phát thải nông nghiệp |
Cây hàng năm khác, CLN |
3,7 kg COD; 28 kg T_N; 0,37 kg T_P /ha/năm |
Bộ Môi trường Nhật Bản |
| Hệ số phát thải sinh hoạt |
Đất ở dân cư |
20-55 kg COD; 10-25 kg BOD5; 4 kg T_N /người/năm |
UNEP (1984), San Diego-MacGlone (2000) |
| Nồng độ nước thải KCN |
Đất sản xuất công nghiệp |
COD 320; BOD5 140; T_N 60; T_P 80; TSS 220 mg/l |
Bộ Tài nguyên và Môi trường |
Chương 2: Địa điểm, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn lưu vực sông Công, xác định rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Luận án xây dựng khung nghiên cứu dựa trên ba cách tiếp cận: phát triển bền vững, tiếp cận hệ thống và tiếp cận liên ngành. Tác giả cụ thể hóa quy trình kỹ thuật gồm 6 phương pháp thực hiện: kế thừa dữ liệu thực tế tại Thái Nguyên; ứng dụng GIS vector để phân định ranh giới lưu vực và bóc tách các lớp biến đổi sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2015, lập ma trận chuyển đổi đất đai; phương pháp đánh giá nhanh nhu cầu nước dựa trên định mức kỹ thuật quy định tại TCVN và TCXDVN; phương pháp tính tải lượng ô nhiễm môi trường nước (COD, BOD, T_N, T_P, TSS) từ các hệ số đơn vị gốc của WHO, UNEP, JICA và Bộ TN&MT; phương pháp phân tích thống kê; và phương pháp thiết kế hệ thống thông tin quản lý tổng hợp tích hợp cơ sở dữ liệu trên hệ quản trị PostgreSQL (PostGres SQL).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và phân tích chuyên sâu qua 5 nội dung chính:
-
Đánh giá thực trạng biến đổi sử dụng đất trên lưu vực sông Công:
Hiện trạng sử dụng đất được phân loại thành 3 nhóm lớn: đất nông nghiệp (NNP), đất phi nông nghiệp (PNN) và đất chưa sử dụng (CSD). Luận án xây dựng ma trận biến đổi sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2015 và ma trận dự tính giai đoạn 2015 - 2020. Kết quả phân tích không gian chỉ ra xu thế biến đổi rõ rệt: diện tích đất trồng lúa (LUA) sụt giảm mạnh do chuyển đổi mục đích sang đất ở, đất sản xuất công nghiệp, đất dịch vụ công cộng và hạ tầng giao thông. Diện tích đất trồng cây hàng năm khác (HNK) và cây lâu năm (CLN) có sự chuyển dịch nội bộ và một phần chuyển sang đất ở. Ngược lại, đất ở tại nông thôn (ONT), đất ở tại đô thị (ODT), đất dịch vụ - công cộng (DVCC) và đất sản xuất công nghiệp (SXCN) đều ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, phù hợp với định hướng công nghiệp hóa và đô thị hóa của tỉnh Thái Nguyên.
-
Đánh giá tác động của biến đổi sử dụng đất đến nhu cầu sử dụng nước:
Tác giả xác lập mối liên hệ định lượng giữa diện tích từng loại hình sử dụng đất và khối lượng nước cần cung cấp. Đất trồng lúa luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nhu cầu sử dụng nước trên lưu vực, do đó sự suy giảm diện tích đất lúa làm giảm nhu cầu nước tưới nông nghiệp tương ứng. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh của đất ở đô thị, đất công nghiệp và đất dịch vụ công cộng dẫn đến nhu cầu nước sinh hoạt và nước sản xuất công nghiệp tăng vọt. Sự dịch chuyển cơ cấu dùng nước thể hiện rõ qua vai trò cấp nước của Nhà máy nước Sông Công và hệ thống hồ Núi Cốc. Tổng hợp nhu cầu nước theo địa phương cấp huyện cho thấy sự phân hóa sâu sắc giữa khu vực thượng lưu (nông nghiệp chiếm ưu thế) và khu vực hạ lưu (nhu cầu nước phi nông nghiệp và đô thị hóa tập trung cao).
-
Đánh giá tác động của biến đổi sử dụng đất đến tải lượng ô nhiễm môi trường nước:
Tải lượng các chất ô nhiễm chính (BOD, COD, T_N, T_P, TSS) phát sinh từ các loại hình sử dụng đất được định lượng cụ thể:
- Đất trồng trọt (lúa, cây hàng năm khác, cây lâu năm) phát thải lượng lớn các hợp chất nitơ, phốt pho dư thừa từ phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, làm gia tăng nguy cơ phú dưỡng hóa nguồn nước mặt sông Công và hồ Núi Cốc.
- Đất ở (đô thị và nông thôn) đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào tổng tải lượng ô nhiễm hữu cơ (BOD5, COD) và chất rắn lơ lửng (TSS) do dân số tập trung cao và hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt chưa hoàn chỉnh.
- Đất sản xuất công nghiệp và đất dịch vụ công cộng gia tăng phát thải chất ô nhiễm cục bộ tại các khu, cụm công nghiệp tập trung. Tổng tải lượng ô nhiễm phân theo cấp huyện phản ánh các vùng hạ lưu chịu áp lực ô nhiễm môi trường nước cao hơn hẳn các vùng thượng lưu.
- Đánh giá thực trạng quản lý tài nguyên nước ở lưu vực sông Công:
Luận án chỉ ra thực trạng tài nguyên nước lưu vực sông Công đang đứng trước nguy cơ suy giảm chất lượng môi trường nước mặt tại các đoạn sông chảy qua khu dân cư và khu công nghiệp. Phân tích các công cụ quản lý hiện hành cho thấy:
- Về công cụ thể chế: Công tác quản lý tài nguyên nước có sự tham gia của nhiều cơ quan (Sở TN&MT, Sở NN&PTNT, UBND các cấp, các đơn vị quản lý khai thác công trình thủy lợi), dẫn đến sự chồng chéo chức năng, thiếu một tổ chức điều phối thống nhất theo lưu vực sông tự nhiên.
- Về công cụ kinh tế và kỹ thuật: Đã áp dụng thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, tiền cấp quyền khai thác nước; tuy nhiên mạng lưới quan trắc chất lượng nước còn thưa và thiếu công cụ phân tích không gian đồng bộ.
- Thách thức lớn nhất là mâu thuẫn trong phân bổ nguồn nước giữa các ngành (nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, du lịch) và việc kiểm soát các nguồn thải không điểm từ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt nông thôn.
- Đề xuất công cụ quản lý tổng hợp tài nguyên đất và nước lưu vực sông Công:
Tác giả đã xây dựng hoàn chỉnh hai hợp phần công cụ kỹ thuật:
- Hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý tổng hợp tài nguyên đất và nước: Thiết kế và lưu trữ trên hệ quản trị cơ sở dữ liệu PostgreSQL (PostGres SQL), bao gồm các lớp dữ liệu không gian (ranh giới lưu vực, mạng thủy văn, hiện trạng và quy hoạch sử dụng đất, mạng lưới cấp thoát nước, các điểm xả thải) và bảng thuộc tính về định mức dùng nước, hệ số tải lượng ô nhiễm.
- Hệ thống phần mềm quản lý tổng hợp tài nguyên đất và nước: Phần mềm tích hợp các giao diện chức năng chuyên biệt: hiển thị và thao tác các lớp bản đồ; tra cứu và cập nhật thông tin đối tượng; thống kê diện tích sử dụng đất; tính toán thống kê nhu cầu sử dụng nước; đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt; mô hình hóa dự báo - quy hoạch sử dụng nước và tải lượng ô nhiễm; kết xuất tự động bản đồ, biểu thống kê và biểu đồ so sánh tổng nhu cầu dùng nước và tải lượng ô nhiễm theo cấp huyện.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt khoa học:
- Luận án đã làm rõ cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn về tác động của biến đổi sử dụng đất đến tài nguyên nước trên quy mô không gian và thời gian tại lưu vực sông Công, cụ thể hóa thành hai chỉ số định lượng: nhu cầu sử dụng nước và tải lượng các chất gây ô nhiễm môi trường nước.
- Xây dựng ma trận biến đổi sử dụng đất dạng tổng quát bằng phương pháp phân tích không gian GIS, cung cấp công cụ phương pháp luận giúp đánh giá định lượng sự biến động giữa các lớp sử dụng đất.
- Hoàn thiện và làm phong phú thêm phương pháp đánh giá nhanh mối quan hệ tương hỗ giữa sử dụng đất với nhu cầu nước và tải lượng ô nhiễm trên một đơn vị diện tích, tạo cơ sở cho việc tích hợp dữ liệu đất đai vào các bài toán cân bằng nước lưu vực.
- Khai thác năng lực của hệ thống thông tin địa lý (GIS mã nguồn mở) và hệ quản trị cơ sở dữ liệu PostgreSQL để thiết kế công cụ quản lý tổng hợp tài nguyên đất và nước cho cấp lưu vực sông.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bộ số liệu toàn diện về hiện trạng và xu thế biến đổi sử dụng đất trên lưu vực sông Công giai đoạn 2010 - 2015 và dự tính giai đoạn 2015 - 2020, định hướng đến năm 2030, phục vụ trực tiếp cho công tác quy hoạch và quản lý đất đai của tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá nhanh bức tranh phân bố nhu cầu dùng nước và tải lượng các chất ô nhiễm môi trường nước (COD, BOD, N, P, TSS) phân theo từng đơn vị hành chính cấp huyện, làm cơ sở khoa học cho việc phân bổ nguồn nước và kiểm soát ô nhiễm nước sông Công và hồ Núi Cốc.
- Xây dựng thành công phần mềm và cơ sở dữ liệu quản lý tổng hợp tài nguyên đất và nước lưu vực sông Công, cung cấp công cụ kỹ thuật hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc giám sát, quy hoạch và ra quyết định.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Về mặt quản lý nhà nước: Cần xem xét thử nghiệm ứng dụng phần mềm và hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý tổng hợp tài nguyên đất và nước đã xây dựng vào công tác quản lý thực tế tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên và các cơ quan liên quan.
- Về quy hoạch: Cần tích hợp đánh giá nhu cầu nước và tải lượng ô nhiễm từ các loại hình sử dụng đất vào quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Về thể chế: Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa ngành Tài nguyên - Môi trường, Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, Xây dựng và chính quyền các huyện trên lưu vực; chuyển dần từ quản lý theo địa gi