CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm có liên quan đến sử dụng đất và tài nguyên nước 1. Các khái niệm và thuật ngữ có liên quan đến sử dụng đất Khái niệm tài nguyên đất: Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá đối với mỗi khu vực, mỗi quốc gia trên thế giới. Các định nghĩa, khái niệm về đất đai đã được nhiều tổ chức trên thế giới đưa ra.
Trong đó đáng chú ý là định nghĩa của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO) của Liên hợp quốc (UN): “Đất đai (land) là một khu vực có thể phân định được trên bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các thuộc tính bên trên hoặc dưới bề mặt bầu khí quyển bao gồm cả bề mặt khí hậu, loại đất và địa hình, bề mặt thủy văn (bao gồm cả hồ nước nông, sông và đầm lầy), các lớp trầm tích gần bề mặt và trữ lượng nước ngầm liên quan, quần thể động vật và thực vật, phong tục tập quán định cư của con người và kết quả vật lý của các hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại” [199]. Sử dụng đất (LU): Là chuỗi các hoạt động được thực hiện với mục đích tạo ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ đất, được đặc trưng bởi hàng hóa và dịch vụ thực tế được tạo ra, hay các biện pháp quản lý cụ thể được người sử dụng đất áp dụng. Nghiên cứu sử dụng đất để đánh giá hiệu quả sử dụng đất và theo dõi diễn biến quá trình chuyển đổi đất đai vào các mục đích sử dụng khác [64]. Biến đổi sử dụng đất (LUC): Là quá trình mà các hoạt động của con người tác động làm biến đổi cảnh quan thiên nhiên, thường đề cập đến phương thức sử dụng đất và nhấn mạnh vào vai trò, chức năng của đất đối với các hoạt động kinh tế [140].
Quản lý đất đai bền vững (SLM): Là sử dụng tài nguyên đất, bao gồm đất trồng trọt, nguồn nước, động vật và thực vật, để sản xuất hàng hóa nhằm đáp ứng những thay đổi về nhu cầu của con người, đồng thời đảm bảo tiềm năng sản xuất lâu dài và duy trì các chức năng môi trường [199]. Quản lý đất đai bền vững còn là một hệ thống sử dụng đất thông qua các biện pháp quản lý phù hợp cho phép người sử dụng đất tối đa hóa lợi ích kinh tế và xã hội từ đất đai, trong khi vẫn duy trì và tăng cường các chức năng hỗ trợ sinh thái của tài nguyên đất [71]. Đối với Việt Nam, phân loại sử dụng đất được trình bày rõ trong Luật đất đai từ năm 1993 cho đến nay. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong luật Đất đai năm 2013, đất đai được phân loại theo mục đích sử dụng thành 3 nhóm như sau: Nhóm đất nông nghiệp bao gồm 8 loại đất; Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm 10 loại đất; Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng [30].
Quy hoạch sử dụng đất: Theo FAO, quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) là hệ thống đánh giá tiềm năng đất, phương án sử dụng đất và các điều kiện kinh tế-xã hội để lựa chọn và áp dụng phương án sử dụng đất hợp lý nhất [85]. Quy hoạch sử dụng đất có thể áp dụng ở 3 cấp: cấp quốc gia, cấp tỉnh/thành phố và cấp địa phương (bao gồm cấp huyện và xã). QHSDĐ như là phương tiện giúp cho nhà quản lý quyết định cách sử dụng đất đai thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất bền vững, mà trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai. Các khái niệm và thuật ngữ có liên quan đến tài nguyên nước Khái niệm tài nguyên nước: Khái niệm về tài nguyên nước là đa chiều.
Nó không chỉ được giới hạn ở đặc tính vật lý của nó (thủy văn và địa chất thủy văn) mà còn bao gồm các khía cạnh chất lượng, môi trường và kinh tế xã hội khác. Tài nguyên nước bao gồm toàn bộ diện tích các vùng nước tự nhiên trên bề mặt Trái đất, bất kể trạng thái hơi, chất lỏng hoặc chất rắn và có tiềm năng sử dụng cho những mục đích của con người. Tài nguyên nước của một lãnh thổ là toàn bộ lượng nước có trong đó mà con người có thể khai thác sử dụng được, xét cả về mặt lượng và chất, cho sinh hoạt, sản xuất, trong hiện tại và tương lai [172]. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm có lượng mưa tương đối lớn nhưng lại phân bố không đồng đều mà tập trung chủ yếu vào mùa mưa, dao động phức tạp theo thời gian.
Theo ước tính, lượng nước mưa hằng năm trên toàn lãnh thổ khoảng 700-5000 mm, phổ biến nằm trong khoảng 1.000 mm, tạo ra một lượng dòng chảy của các sông hồ khoảng 313 tỉ m3. So với nhiều nước, Việt Nam có nguồn nước ngọt khá dồi dào, lượng nước bình quân cho mỗi đầu người đạt tới 17. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhu cầu sử dụng nước: Nhu cầu nước đối với các hoạt động của con người là lượng nước mà con người sẽ sử dụng. Sử dụng nước là lượng nước mà con người tiêu dùng thực tế, lượng nước này có thể thấp hơn nhiều so với nhu cầu nước trong trường hợp nước cấp bị hạn chế do hệ thống cấp nước bị quá tải và hoạt động kém [6].
Nhu cầu nước được dự kiến cung cấp cho từng hạng mục sử dụng cho các hoạt động của con người bao gồm: Nông nghiệp, thương mại, công nghiệp, giải trí và môi trường. Tại mỗi quốc gia khác nhau, nhu cầu sử dụng nước cho các hoạt động sẽ khác nhau. Nhu cầu nước thường do Chính phủ các nước quy định, thể hiện ý định và mong muốn phục vụ nhân dân ở một mức độ nhất định và căn cứ vào các kế hoạch và phương hướng đang thực hiện [199]. Chất lượng nước: Là một thuật ngữ được sử dụng để thể hiện mức độ phù hợp của nước để duy trì các quá trình hay quy trình sử dụng nước khác nhau.
Bất kỳ hình thức sử dụng nước cụ thể nào cũng sẽ có những yêu cầu nhất định đối với các đặc tính vật lý, hóa học hoặc sinh học của nước; ví dụ giới hạn về nồng độ các chất độc hại khi sử dụng nước cho mục đích sinh hoạt, ăn uống, hoặc giới hạn về nhiệt độ và độ pH đối với nguồn nước cho cộng đồng động vật không xương sống [137]. Ô nhiễm nước: Là bất kỳ những thay đổi về mặt vật lý, hóa học hoặc sinh học đối với chất lượng nước gây ảnh hưởng xấu đến bất kỳ sinh vật sống nào uống hay sử dụng hoặc sống trong nó. Khi con người uống nước bị ô nhiễm, thường có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Ô nhiễm nước cũng khiến cho nguồn nước không được sử dụng cho các mục đích mong muốn [169].
Khi xem xét đánh giá chất lượng nguồn nước, cần lưu ý một số khái niệm về ô nhiễm nguồn nước, cụ thể như sau [6]: Tải ô nhiễm: Những chất và vật thể gây ô nhiễm vùng nước. Các tải ô nhiễm được nói đến trong luận án chủ yếu như COD, nitơ và phốt pho. Số lượng của tải ô nhiễm được gọi là tải lượng ô nhiễm. Nguồn phát thải: Nguồn phát sinh tải ô nhiễm.
Nguồn ô nhiễm: Nguồn tải ô nhiễm tương ứng. Tải lượng ô nhiễm: Khối lượng của tải ô nhiễm sinh ra. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tải lượng phát thải: Tải lượng ô nhiễm thải vào vùng nước. Đây là thuật ngữ xuất phát từ quan điểm về nguồn ô nhiễm.
Tải lượng tiếp nhận: Tải lượng ô nhiễm thải mà vùng nước tiếp nhận. Đây là thuật ngữ xuất phát từ quan điểm về vùng nước. Sự phú dưỡng: Một dạng ô nhiễm nước, khi có sự thâm nhập từ lưu vực của một lượng quá mức các chất dinh dưỡng, chủ yếu là các hợp chất hóa học của nitơ và phốt pho. Tình trạng này dẫn tới sinh vật phù du và rong tảo sinh sôi mạnh mẽ khác thường và tiêu thụ oxy hòa tan trong nước khiến các sinh vật trong nước chết và gây ra nhiều vấn đề trong sử dụng nước như môi trường sống suy thoái, ảnh hưởng đến ngư nghiệp, ô nhiễm nước uống, v.
Ô nhiễm nước có thể được phân thành nhiều loại khác nhau theo ảnh hưởng và cơ chế của ô nhiễm, bao gồm: (1) Ô nhiễm nước từ kim loại nặng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, (2) Từ vi khuẩn gây ra các vấn đề về sức khỏe cộng đồng, (3) Ô nhiễm hữu cơ do một phần các chất hữu cơ chảy vào từ tự nhiên do ăn mòn hay từ xác động vật, tuy nhiên các chất hữu cơ cũng được tìm thấy trong nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp từ các nhà máy thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và (4) Hiện tượng phú dưỡng xuất hiện bởi các chất dinh dưỡng là hợp chất của nitơ và phốt pho trở nên dư thừa, chảy vào từ lưu vực. Các khái niệm về quản lý tài nguyên nước Khái niệm quản lý tổng hợp tài nguyên nước (QLTHTNN) hay Integrated Water Resources Management (IWRM) đã được biết đến từ lâu, tuy nhiên cùng với thời gian, nội dung của nó ngày càng được bổ sung và hoàn thiện. Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước Phát triển bền vững không phải là một khái niệm mới mẻ mà thực ra đã được sử dụng trong quản lý các tài nguyên có khả năng tái tạo. Đối với tài nguyên nước, con người hoàn toàn có khả năng làm cho tài nguyên nước phát triển được bền vững, đảm bảo đáp ứng được những nhu cầu hiện tại của mình mà không gây phương hại đến việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, đồng thời giảm thiểu tổn hại tới hệ thống kinh tế- xã hội và môi trường.
Như vậy quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước có thể được hiểu là một cách tiếp cận quản lý và phát triển 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước nhằm tìm kiếm kết quả cân bằng giữa ba khía cạnh của phát triển bền vững: Hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và bền vững môi trường [99]. Ở Việt Nam, tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với phát triển bền vững đã có sự chuyển biến rõ rệt cả về nhận thức và hành động.