Chương 1: Chủ yếu giới thiệu những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài đồng thời giới thiệu sơ lược về đất nước Australia và cộng đồng cư dân bản địa của quốc gia này. 10 Chương 2: Nêu bối cảnh lịch sử và quá trình tương tác giữa cư dân bản địa Australia với các cộng đồng cư dân khác mà chủ yếu là người Anh trong xã hội Australia thuộc địa.Từ đó phân tích sự thích nghi mang tính sống còn của người Australia bản địa vào một xã hội hoàn toàn mới mẻ và lạ lẫm về mọi mặt trong điều kiện lịch sử vô cùng khắc nghiệt đối với cộng đồng này. Do đó, trong chương này chủ yếu phân tích một cách khái quát sự thích nghi ban đầu của cộng đồng cư dân bản địa Australia vào một môi trường văn hóa - xã hội hoàn toàn khác biệt, hoàn toàn xa lạ đối với nền văn hóa bản địa của họ. Với lý do trên, chúng tôi xin đi vào phân tích sự thích nghi của cộng đồng cư dân bản địa Australia ở hai lĩnh vực khái quát nhất là văn hóa và xã hội (tiểu mục 2.2) trước khi đi vào phân tích sự thích nghi vào những lĩnh vực cụ thể hơn ở chương 3.
Ngoài việc chỉ ra những thành công bước đầu, chương 2 cũng nêu những hạn chế trong quá trình thích nghi trên. Chương 3: Tiếp tục nêu và phân tích bối cảnh lịch sử, đặc trưng quá trình thích nghi của cộng đồng đồng cư dân bản địa Australia vào xã hội Australia trong giai đoạn nhà nước Liên bang. Trong giai đoạn này, do những thay đổi lớn về mọi mặt khi Australia chuyển từ thuộc địa trở thành một nhà nước Liên bang, những nhân tố tác động lên cộng đồng người bản địa cũng biến chuyển sâu sắc. Từ đó, sự hòa nhập của cộng đồng này cũng có những bước chuyển biến mới.
Chương này tập trung đi vào phân tích sự thích nghi của cộng đồng cư dân bản địa Australia ở các khía cạnh cụ thể như: lao động sản xuất, đời sống sinh hoạt, tôn giáo và pháp luật (tiểu mục 3. Việc phân tích các khía cạnh này sẽ tạo ra một bức tranh sinh động về đời sống của cộng đồng cư dân bản địa Australia trong một xã hội mới, khác với xã hội thuộc địa trước đây, từ đó cho thấy những chuyển biến tích cực trong quá trình thích nghi của họ, song song với đó là những nhân tố gây ảnh hưởng tiêu cực và kiềm hãm sự thích nghi, hòa nhập của họ. Qua đó, chương 3 đề xuất giải pháp góp phần vào sự thích nghi, hòa nhập ngày một tốt hơn của cộng đồng này trong bối cảnh một Australia đang xây dựng một quốc gia đa văn hóa, đa chủng tộc. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Thuyết Đa văn hóa “Đa văn hóa” là một khái niệm phổ biến trong các ngành nhân chủng học hay nhân học phương Tây.
Trên bình diện triết học, khái niệm này được khái quát hóa trở thành “thuyết Đa văn hóa” hay “chủ nghĩa Đa văn hóa” – các khái niệm triết học chỉ sự chấp nhận nhiều nền văn hóa khác nhau. Trước khi trở thành một học thuyết, một đối tượng nghiên cứu hay cương lĩnh hành động của một quốc gia thì hiện tượng đa văn hóa đã hiện diện trong các xã hội loài người từ rất lâu trước đó. Về bản chất, có thể hiểu đa văn hóa là một sự cùng tồn tại của nhiều nền văn hóa khác nhau trong một không gian và thời gian nhất định. Không gian ở đây có thể là một vùng, khu vực (ví dụ một thành phố, một tỉnh), hoặc một vùng lãnh thổ (bang), một quốc gia hay thậm chí vượt ngoài ranh giới quốc gia (nhóm các quốc gia).
Còn về thời gian, “một khi các xã hội loài người có sự tiếp xúc và tiếp biến với nhau thì sẽ xảy ra hiện tượng đa văn hóa” [Nicolas Journet 2011]. Khi đa văn hóa trở thành một học thuyết thì nhiều định nghĩa về nó đã ra đời, trong đó một trong những định nghĩa tương đối đầy đủ là: “Thuật ngữ “chủ nghĩa đa văn hóa” dùng để chỉ một xã hội lý tưởng nơi mà các cộng đồng cùng tồn tại một cách hòa hợp, được tự do bảo vệ tôn giáo, ngôn ngữ và phong tục tập quán riêng của mình và bình đẳng về các quyền lợi trong xã hội, quyền dân sự, quyền lực về chính trị. Các cộng đồng này được chia sẻ với những cộng đồng khác trong xã hội những mối quan tâm đặc biệt có ý nghĩa quốc gia. Thông qua sự chia sẻ ấy sẽ có những dị biệt, sự bình đẳng và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cộng đồng.
Trong thực tế bao giờ cũng có nhiều hơn các xã hội đa văn hóa. Các xã hội được coi là thuần nhất về mặt văn hóa chiếm dưới 10 phần trăm số nước trên thế giới [Nicolas Journet 2011]. Mức độ “đa văn hóa” ở các quốc gia chắc chắn rất khác nhau, tuy nhiên ở những quốc gia được mệnh danh là melting pot, cultural mosaic hay salad bowl1 như Mỹ, Australia, Canada, Anh, Pháp…thì vấn đề làm sao để tạo nên một xã hội đa nguyên văn hóa nhưng vẫn giữ tính thống của quốc gia là vấn đề được đặt ra ngày càng gây gắt và chính điều này đòi hỏi một cách tiếp cận đúng đắn đối với thuyết đa văn hóa để có thể vận dụng lý thuyết này vào thực tế xã hội để đạt được mục tiêu quan trọng của quốc gia như công bằng xã hội, ổn định xã hội, hòa hợp dân tộc, giảm bớt sự khác biệt văn hóa, hay phát hay sức mạnh văn hóa của các nhóm dân tộc trong xã hội. Trong lĩnh vực chính trị, khi thuyết Đa văn hóa được ứng dụng hay trở thành nền tảng cho trong những những chính sách chính thức của quốc gia “Chính sách đa văn hóa” là sự thể hiện hóa thuyết Đa văn hóa ở bình diện chính trị.
Nó là văn bản quy phạm pháp luật pháp luật thể hiện sự định hướng, điều chỉnh hay thực thi chủ nghĩa đa văn hóa trong xã hội. Chính sách Đa văn hóa ra đời tại Australia vào đầu những năm 1970 trong bối cảnh “nước Úc trắng” đã suy tàn và Australia phải đứng trước những thử thách rất lớn về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cần thiết phải có những điều chỉnh, thay đổi để đảm bảo sự phát triển của đất nước này. Chính sách Đa văn hóa ra đời là cơ hội rất lớn để người bản địa khẳng định sự tồn tại của mình với vai trò là một bộ phận cấu thành của xã hội Australia với bản sắc riêng biệt. 1 Những từ dùng để chỉ các xã hội hay quốc gia có công dân thuộc nhiều nguồn gốc chủng tộc khác nhau.2 Khái niệm thích nghi và tiếp biến văn hóa Ở nghĩa chung nhất, thích nghi chỉ sự thay đổi diễn ra ở cá nhân hoặc nhóm cá nhân nhằm phản ứng lại những đòi hỏi của môi trường.
Sự thay đổi này có thể diễn ra ngay tức thì hoặc cũng có thể diễn ra trong một thời gian dài. Những sự thay đổi ngắn hạn trong quá trình tiếp biến văn hóa đôi khi tiêu cực và thường thường mang tính đứt gãy về bản sắc. Tuy nhiên, đối với những người đang trong quá trình tiếp biến văn hóa, thì sau một khoảng thời gian, sự thích nghi tích cực và lâu dài đối với bối cảnh văn hóa mới sẽ diễn ra. Do phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, sự thích nghi diễn ra ở nhiều dạng thức khác nhau [John W.
Cũng như đa văn hóa, tiếp biến văn hóa cũng là một hiện tượng xã hội có lịch sử lâu đời khi các dân tộc, tộc người bắt đầu có sự tiếp xúc với nhau. Trong quá trình tiếp xúc với nhau, các xã hội khác nhau tác động qua lại lẫn nhau tạo ra những ảnh hưởng, biến đổi lên nền văn hóa của nhau. Quá trình trên được gọi là hiện tượng tiếp biến văn hóa. Tiếp biến văn hóa là hiện tượng đã diễn ra từ nhiều nghìn năm trước, nhưng việc quan tâm nghiên cứu tiếp biến văn hóa chỉ nảy sinh từ mối quan tâm về hậu quả của sự thống trị của người châu Âu đối với các dân tộc bản địa.
Về sau, việc nghiên cứu về tiếp biến văn hóa tập trung vào vấn đề người nhập cư thay đổi như thế nào sau khi đến và ổn định tại xã hội tiếp nhận. Gần đây hơn, nhiều nghiên cứu được thực hiện liên quan đến những nhóm chủng tộc văn hóa quan hệ với nhau như thế nào và thay đổi ra sao dưới kết quả của việc nỗ lực sống cùng nhau trong những xã hội đa nguyên văn hóa [J. Mặc dù hiện nay có nhiều quan điểm rất đa dạng về tiếp biến văn hóa, một trong những định nghĩa ra đời sớm nhất và được sử dụng rộng rãi nhất cho đến nay là định nghĩa của nhóm tác giả Redfield, Linton và Herskovits năm 1936: 14 “Tiếp biến văn hóa bao gồm những hiện tượng diễn ra khi các nhóm cá nhân có văn hóa khác nhau tiếp xúc trực tiếp và liên tục với nhau, với kết quả là những sự thay đổi trong kiểu thức văn hóa của một hoặc các nhóm”. Berry 2005: 701] Tiếp biến văn hóa diễn ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, và do đó mang những tính chất khác nhau.
Dựa trên nguyên nhân và tính chất của quá trình tiếp biến văn hóa, có thể chia tiếp biến văn hóa thành hai lại chủ yếu: “Loại thứ nhất diễn ra khi hai nền văn hóa thường xuyên tiếp xúc với nhau mà nền văn hóa này không thống trị nền văn hóa kia. Trong cái quá trình gọi là sát nhập này, mỗi một nền văn hóa tự do vay mượn của nền văn hóa kia, những nét mà nó sẽ thay đổi đi, để hòa nhập chúng. Loại thứ hai diễn ra khi một nền văn hóa này gặp gỡ một nền văn hóa kia tiếp theo một cuộc chinh phục quân sự hay thống trị chính trị. Loại này bề ngoài có vẻ đơn giản hơn loại kia, nhưng lại có những hậu quả phức tạp hơn, và thường những cuộc xung đột tộc người bắt đầu từ đây.” [Nghiêm Văn Thái 2001: 31-2] Cũng theo tác giả Nghiêm Văn Thái, loại tiếp biến văn hóa tạo ra những “kịch bản” phức tạp hơn nhiều so với loại thứ nhất.
Loại tiếp biến văn hóa mang tính cưỡng bức này có thể tạo ra khả năng đồng hóa của nền văn hóa của nền văn hóa thống trị đối với nền văn hóa kia; hoặc tạo ra khả năng dung hợp giữa hai nền văn hóa; hoặc khả năng phản ứng của nền văn hóa bị thống trị đối với văn hóa thống trị [Nghiêm Văn Thái 2001: 32].