Chương I của Luận án sẽ tổng quan các tài liệu lý luận và thực tiễn liên quan tới đề tài nghiên cứu. Trên cơ sở đó, tổng hợp những thành tựu và khoảng trống của các tài liệu nghiên cứu trước đây, từ đó xác định ra những đóng góp của Luận án đối với vấn đề nghiên cứu. Các nghiên cứu lý luận về sự tham gia của quốc gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trong bối cảnh chuyền đổi số 1. Lý luận về sự tham gia của quốc gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Nghiên cứu về GVCs là một lĩnh vực liên quan tới thương mại quốc tế phát triển trong thời gian gần đây, các nghiên cứu chủ yếu là thực tiễn về trường hợp quốc gia/ngành, hoặc sản pham cụ thể, do đó, các lý thuyết về GVCs vẫn còn khá mới và chưa được hệ thống hóa toàn diện (Hernandez và Pendersen, 2017).
Về khái niệm GVCs, trong nhiều năm qua, các học giả đã cung cấp các thuật ngữ khác nhau nhăm xác định cách thức tô chức và hoạt động như chuỗi hàng hóa (Selwyn, 2015), chuỗi cung ứng (Connelly và cộng sự, 2013; Priem và Swink, 2012), và mạng lưới giá trị (de Reuver và Bouwman, 2012). Trong khi khái niệm về chuỗi cung ứng giải thích mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp và khách hàng nhằm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ với chi phí thấp hơn (Christopher, 2005), thì khái nệm về chuỗi giá tri tiến xa hơn một bước, các thực thé có thé được kết nối và tạo ra giá trị nhất định và đó là yếu tố lợi thế cạnh tranh của ho (Al-Mudimigh va cộng sự, 2004). De Marchi và cộng sự (2014); Giroud va Mirza (2015) cập nhật xu hướng phát triển của chuỗi và đề xuất rằng chuỗi giá trị liên quan đến một loạt các hoạt động được sắp xếp, tô chức, hệ thống và liên kết với nhau thông qua một mạng lưới trên phạm vi toàn cầu. Gần đây, Ponte và cộng sự (2019) đã cập nhật và định nghĩa GVCs /à một chuỗi đây đủ các hoạt động mà doanh nghiệp và người lao động thực hiện dé đưa một sản phẩm từ ý tưởng đến mục dich sử dụng cuối cùng, chuỗi hoạt động trên quy mô toàn cau và có thé do một hoặc nhiễu doanh nghiệp cùng đảm nhận.
Về sự tham gia vào GVCs, cách tiếp cận ban đầu dựa trên việc nghiên cứu chuyên sâu vào các sản phẩm cụ thể. Một số nghiên cứu điển hình có thể ké đến như sản phâm búp bê Barbie (Tempest, 1996), iPod của Apple (Linden và cộng sự, 2009), máy tính xách tay của HP và Lenovo (Dedrick và cộng sự, 2010) và điện thoại thông minh N95 của Nokia (Ali-Yrkko và cộng sự, 2011). Dựa trên việc tìm hiểu và phân tích chỉ tiết báo cáo của các công ty điển hình này, các nhà nghiên cứu đã tìm cách xác định nguồn gốc của GTGT trong quá trình sản xuất một hàng hóa cụ thể xuyên biên giới. Mặc dù kết quả nghiên cứu có giá trị cao nhưng tính ứng dụng hạn chế, khó khái quát hóa cho những trường hợp khác.
Song song với các nghiên cứu ở cấp độ sản phẩm, cách tiếp cận nghiên cứu thứ hai tập trung phân tích sự tham gia vào GVCs ở cấp độ quốc gia/ngành. Hummels và cộng sự (2001) là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về sự tham gia của quốc gia/ngành vào GVCs. Theo đó, một quốc gia/ngành có thé tham gia vào quá trình chuyên môn hóa đọc theo quy trình sản xuất bởi hai cách: i) sử dụng đầu vào trung gian nhập khẩu dé sản xuất hàng xuất khẩu; ii) xuất khẩu hàng hoá trung gian được nước khác sử dụng làm đầu vào để sản xuất hàng hoá xuất khâu. Hummels và cộng sự (2001) đã đưa ra hai giả định cho mô hình của mình.
Thứ nhất, cường độ sử dụng các yếu tố đầu vào nhập khẩu là như nhau đối với hang hoá sản xuất dé xuất khâu và tiêu thụ trong nước. Giả định này không đúng đối với thương mại gia công với một số lượng lớn ở các nước dang phát trién. Thứ hai, tất cả các nguyên liệu đầu vào trung gian nhập khẩu đều có nguồn gốc 100% từ nước ngoài. Giả định này đánh giá thấp tỷ trọng GTGT nội địa trong xuất khẩu, đặc biệt là đối với các nước phát triển khi hàng nhập khâu của họ thường có tỷ trọng lớn GTGT của chính nước họ.
Bởi lẽ đó, mặc dù Hummels và cộng sự (2001) là một trong những nghiên cứu đầu tiên phân tích sự tham gia vào GVCs theo chiều dọc của quy trình sản xuất, đánh dấu một dấu ấn quan trọng trong mảng 10 nghiên cứu về chuỗi giá trị, nhưng những giả định mạnh mẽ như trên đã không còn phù hợp, đặc biệt là trong bối cảnh hiện tại. Koopman và cộng sự (2010) đã kế thừa và khắc phục những hạn chế trong nghiên cứu của Hummels và cộng sự (2001). Cụ thể, Koopman và cộng sự (2010) đã phân tách chi tiết tổng xuất khâu của một quốc gia thành năm phan: (1) GTGT nội địa được thê hiện trong xuất khâu hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà nhà nhập khâu hấp thụ trực tiếp; (2) GTGT nội địa được thể hiện trong xuất khẩu hàng hóa trung gian mà nhà nhập khâu trực tiếp sử dung dé sản xuất các sản phẩm cần thiết trong nước; (3) GTGT nội địa được thé hiện trong xuất khâu hàng hóa trung gian mà nhà nhập khẩu trực tiếp sử dụng dé sản xuất hàng hóa và xuất khâu sang các nước thứ ba (xuất khẩu GTGT gián tiếp); (4) GTGT nội địa được thể hiện trong xuất khẩu hàng hóa trung gian được nhà nhập khẩu trực tiếp sử dung dé sản xuất hàng hóa và xuất khâu quay trở lại nước nguồn (GTGT nội địa phản chiếu); và (5) GTGT từ nước ngoài thé hiện trong tổng xuất khẩu (GTGT nước ngoài được sử dụng trong xuất khẩu) Trong đó, Koopman và cộng sự (2010) chỉ ra tổng của (1), (2) và (3) sẽ bằng GTGT xuất khâu của mỗi quốc gia ra thế giới; tổng của (1), (2), (3) và (4) bằng hàm lượng nội địa trong tổng xuất khẩu của một quốc gia; tông của (4) và (5) là phần thương mại được tính hai lần trong thống kê tông thương mại. Trong khi đó, mô hình của Hummels và cộng sự (2001) chỉ tính đến hai nguồn GTGT là (3) và (5), do đó, bỏ sót một phần lớn các hoạt động trong mạng lưới sản xuất quốc tế.
Bên cạnh đó, Hummels và cộng sự (2001) cũng không thể phân biệt giữa thương mại trong GVC đơn giản (thương mại GVCs chỉ vượt qua biên giới 1 lần — đại điện thuật ngữ (2)) và thương mại trong GVC phức tạp (thương mại GVCs vượt qua biên giới nhiều lần — đại diện thuật ngữ (3)). Tóm lại, Koopman và cộng sự (2010) đã định nghĩa sự tham gia của quốc gia/ngành vào GVCs là sự ¿ham gia vào liên kết trước và/hoặc liên kết sau trong chuỗi giá trị và được xác định theo nguồn gốc của GTGT thể hiện trong tổng xuất khẩu của quốc gia/ngành cụ thể. Rất nhiều các công trình nghiên cứu đã trích dẫn theo cách tiếp cận của Koopman và cộng sự (2010) nhằm bước đầu đánh giá về sự tham gia của quốc gia/ngành vào GVCs. Một số công trình điển hình có thể ké đến như nghiên cứu của 11 Kowalski và cộng sự (2015) phân tích sự tham gia vào GVCs của 152 quốc gia, phân tách thành các khu vực khác nhau trên thế giới bao gồm: Đông Nam Á và Đông Á, Nam Á, Trung Đông và Bắc Phi, Tây và Trung Phi, và Đông và Nam Phi.
Nghiên cứu của Muradov (2017) tính toán về chỉ số vị thế và mức độ tham gia của 61 quốc gia trên thé giới trong GVCs giai đoạn 2008-2011. Nghiên cứu của IMF (2019) đánh giá sự tham gia của 189 quốc gia vào GVCs. Nghiên cứu của UNCTAD (2013) phân tích về sự tham gia của 58 quốc gia vào GVCs thông qua chỉ số vị thế, mức độ tham gia, sự tham gia vào liên kết trước và sau trong GVCs. Gần đây nhất, báo cáo thường kỳ về GVCs của World Bank (2020) cũng sử dụng bộ chỉ số của Koopman và cộng sự (2010) dé rà soát và cập nhật thực trạng tham gia của các khu vực khác nhau trên thé giới vào GVCs.
Có thé nói rằng, các nghiên cứu hiện đại về sự tham gia ở cấp độ quốc gia/ngành vào GVCs đều bước đầu dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của Koopman và cộng sự (2010). Một điểm khác biệt giữa các công trình nghiên cứu kế trên đó là bộ dữ liệu được sử dụng trong quá trình tính toán sự tham gia của quốc gia/ngành vào GVCs. Với mục tiêu truy tìm dòng chảy thương mại GTGT giữa các quốc gia, các nhà nghiên cứu đã kết hợp thông tin từ các cơ quan hải quan với các bang Đầu vao-Dau ra của quốc gia dé xây dựng các bảng liên ngành đầu vào - đầu ra trên phạm vi toàn cầu. Được sử dụng rộng rãi nhất là Cơ sở dữ liệu đầu vảo - đầu ra thé giới (World Input Output Database-WIOD), một dự án hợp tác do các nhà nghiên cứu tại Đại học Groningen.
Tiếp đến là cơ sở đữ liệu Thương mại GTGT (Trade in Value Added-TiVA) do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development-OECD) biên soạn. Cuối cùng là cơ sở dữ liệu chuỗi cung ứng toàn cầu EORA MRIO được xây dựng bởi UNCTAD. Mặc dù Koopman và cộng sự (2010) đã sử dụng dữ liệu WIOD, tuy nhiên, bộ dữ liệu này có những giới hạn nhất định, điển hình đó là sự thiếu xót dit liệu của một số quốc gia như Việt Nam. Bởi lẽ đó, để đảm bảo tính khả thi và phù hợp với mục tiêu, đối tượng nghiên cứu cụ thể, các công trình nghiên cứu đã sử dụng các bộ dt liệu khác nhau mặc dù vẫn bám sát vào hệ thống chỉ số của Koopman và cộng sự (2010).
Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu của Koopman và cộng sự (2010) vẫn có 12 những giới hạn nhất định trong việc đánh giá đa diện về sự tham gia của quốc gia/ngành vào GVCs. Thực tế thì hệ thống chỉ số của Koopman và cộng sự (2010) mới dừng lại ở việc đánh giá vị thế chung của quốc gia/ngành trong GVCs. Theo đó, một quốc gia/nganh có thé định vị ở thượng nguồn hay tập trung vào hoạt động xuất khâu hàng hóa trung gian ra nước ngoài và tiếp tục được xuất khẩu sang nước thứ ba; hoặc định vị ở hạ nguồn hay tập trung vào hoạt động nhập khâu đầu vào phục vụ cho xuất khẩu trong nước.