Chương 1 TÔNG QUAN 1. Téng quan tài liệu 1. Các nghiên cứu trên thế giới Hongxia Chen va cộng sự (2017) đã nghiên cứu “các yếu tố ảnh hưởng đến việc nông dân san sàng di chuyền nhà ở nông thôn: Một cuộc khảo sát ở Chiết Giang, Trung Quốc”. Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát thực địa, phân tích nhân tố khám phá EFA để phân tích các yếu tố: giảm việc làm, thiếu an sinh xã hội hỗ trợ, chi phí mua nhà mới cao, tiêu chuẩn đền bù cho nhà ở thấp, mức sống giảm và bat tiện trong sản xuất nông nghiệp.
Kết quả cho thấy trong số tất cả các phương thức đền bù, nông dân thích nhà ở tái định cư hơn và họ quan tâm nhiều hơn đến các cơ sở dịch vụ công cộng và cơ sở vật chất cơ bản. Wenshu Li và cộng sự (2020) đã phân tích động cơ và ý định tham gia của người dân trong quy hoạch đô thị. Cuộc khảo sát được thực hiện tại Vũ Hán, Trung Quốc, một mô hình phương trình cấu trúc được phát triển và ước tinh dé xác định mối quan hệ nhân quả giữa bốn yếu tố động cơ (Xã hội dân sự, Lợi ích cá nhân, Ảnh hưởng xã hội, Hạn chế) và ba ý định tham gia quy hoạch đô thị (Quy mô quy hoạch, Nội dung quy hoạch và Quy trình quy hoạch đô thi) trong lĩnh vực quy hoạch vả quan lý đô thị. Kết quả cho thấy có sự tác động tích cực của “Xã hội dân sự” “Lợi ích cá nhân” “Ảnh hưởng xã hội” và tác động tiêu cực của “Ràng buộc” đối với ý định tham gia quy hoạch đô thị.
Nghiên cứu đã cung cấp những hiểu biết có giá trị dé khám pha các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến ý định tham gia của người dân vào các hoạt động quy hoạch đô thị. Pan Zhigao (2021) đã thực hiện “Nghiên cứu về các yếu tô ảnh hưởng đến hạnh phúc của nông dân tỉnh Giang Tây”. Nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích probit, phân tích hồi quy đa biến dé phân tích dữ liệu thu thập. Dựa vào kết quả phân tích, nghiên cứu đã đưa ra các kết luận: - Yếu tô “Tuổi” có liên quan đáng kê đến sức khỏe của nông dan.
Xét về trình độ học van, chỉ có trình độ trung học phô thông va cao đẳng trở lên mới có tác động tích cực đáng kê đến việc cải thiện đời sống của nông dân. - Thu nhập tương đối có tác động đáng ké đến sức khỏe của Nông dân, trong khi thu nhập tuyệt đối không có tác động đáng kê. Ngoài ra, số lượng bat động san càng nhiều thì người dân nông thôn càng hạnh phúc nhưng diện tích nhà ở không không có ảnh hưởng đáng kể. - Tat cả các dich vụ công cộng xã hội đều có tác động đáng ké đến việc nâng cao hạnh phúc của nông dân.
Trong đó quản lý xã hội, an sinh xã hội và việc làm có tác động lớn nhất, còn lại là an ninh nhà ở, công trình công cộng, quản lý công cộng và chăm sóc sức khỏe theo có tác động thấp hơn. Mặc dù, thế giới có những nước đã xây dựng hệ thống chương trình phát triển nông thôn trước Việt Nam, điền hình là chương trình “Saemaul Undong” (Phong trào làng mới) của Hàn Quốc, chương trình OVOP (Mỗi làng một sản phẩm: One Village One Product) của Nhật Bản và chương trình “Xí nghiệp Hương Tran” của Trung Quốc nhưng số lượng các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng tham gia của người dân trong các chương trình này thật sự là rất hạn chế và quá củ, ít còn phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam. Do đó, trong nghiên cứu này tác giả đã tập trung tìm hiểu các nghiên cứu của Việt Nam liên quan đến chương trình xây dựng Nông thôn mới. Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Văn Tuấn (2012) đã nghiên cứu vấn đề phát huy sự tham gia đóng góp của người dân cho chương trình XDNTM- Bài học kinh nghiệm từ mô hình thí điểm Thụy Hương.
Nghiên cứu đã dùng phương pháp thống kê mô ta và phân tích nhân tố khám phá EFA để phân tích 7 nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào chương trình xây dựng NTM tại xã Thụy Hương (Chương Mỹ - Hà Nộ)), gôm: Người dân được tuyên truyện sâu rộng về nội dung, ý nghĩa của chương trình XDNTM; Người dân hiểu rõ được ý nghĩa, mục tiêu của chương trình XDNTM; Người dân được tham gia bàn bạc xây dựng kế hoạch của chương trình; Người dân biết rõ về các hoạt động sẽ triển khai của chương trình; Người dân nắm rõ được mức đầu tư cho từng hạng mục; Người dân nắm rõ nội dung của các tiêu chí NTM; Người dân được tham gia, giám sát quá trình thực hiện từng hạng mục. Kết quả cho thấy các nhân tố khảo sát đều có tác động tích cực đến sự sẵn lòng tham gia của người dan trong việc XDNTM. Lê Đức Niêm và Trương Thành Long (2017) nghiên cứu sự hài lòng của người dân trong công tác XDNTM ở xã EA Tiêu, huyện Cu Kuin, tỉnh Dak Lak. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy đa biến dé phân tích 6 nhân tố, gồm: sự tiếp cận, chính quyền, sự am hiểu, sự đóng góp, kiểm tra và đánh giá dé khảo sát sự tác động của các nhân tô này đến sự hài lòng của người dân trong công tác XDNTM.
Kết quả cho thấy, sự hài lòng của người dân là khá cao và được quyết định bởi 5 nhóm nhân tố bao gồm: Sự tiếp cận của người dân, Vai trò của chính quyền, Sự am hiểu của người dân, Vai trò kiểm tra của người dân và Đánh giá của người dân. Trong đó Sự am hiểu, Đánh giá và Vai trò kiểm tra của người dân là các yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến mức độ hai lòng. Lê Đình Hải (2018) đã nghiên cứu giải pháp tăng cường sự sẵn lòng tham gia của người dân vào chương trình XDNTM trên địa ban huyện Tân Phú, tinh Đồng Nai. Nghiên cứu thực hiện dựa trên sự khảo sát 216 hộ gia đình trên địa ban 6 xã thuộc huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai và dùng phương pháp nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan và hồi quy đa biến để xử lý, phân tích dữ liệu.
Kết quả chỉ ra 6 nhóm nhân tố có ảnh hưởng một cách dang kể đến sự sẵn lòng tham gia vào chương trình XDNTM gồm: Điều kiện gia đình, Chính sách xây dựng NTM, Tham gia của người dân, Tiếp cận thông tin, Cấp chính quyền địa phương và Nhận thức của người dân. Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự sẵn lòng của người dân tham gia vào công cuộc XDNTM. Lê Vân Anh (2021) đã nghiên cứu ảnh hưởng sự tham gia của người dân đến kết qua chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Dinh Quan, tinh Đồng Nai. Nghiên cứu đánh giá mức độ tham gia của người dân theo thang đo “dân biết, dân ban, dân đóng góp, dân lam, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi”.
Kết qua cho thấy, đa số người dân chỉ dừng ở mức độ “dân hưởng lợi” một cách thụ động. Những mức độ tham gia như “dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý” ít hoặc không thể hiện ở người dân. Kết quả phản ánh thực trạng về sự tham gia của người dân là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến kết quả XDNTM. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự tham gia của người dân đóng góp vại trò rất quạn trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của chương trình XDNTM.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Hưng và Võ Văn Tuấn (2021) đã phân tích các yêu tố tác động đến tiến trình XDNTM của tỉnh Đồng Tháp bằng các phương pháp phân tích thống kê mô tả, kiểm định Independent Samples T-Test và hồi quy Tobit. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa nhóm xã tiến chậm và tiến nhanh về kết quả tiêu chí đạt được, nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và hoàn thành các nhóm tiêu chí. Các yếu tố về hạ tầng kinh tế - xã hội, gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, đội ngũ cán bộ cơ sở, tham gia của người dân có tác động tích cực và có ý nghĩa tiến trình xây dựng nông thôn mới của nhóm xã tiến nhanh trong khi đó chỉ có yếu tố đội ngũ cán bộ cơ sở anh hưởng nhóm xã tiến chậm. Đồng thời, nghiên cứu cũng đã đề xuất các giải pháp thúc nhằm đây tiến trình đạt được các tiêu chí NTM hiệu qua hon dé tiến đến xây dựng xã NTM nâng cao, kiểu mẫu.
Ngo Thanh Phong (2021) đã “phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân về chương trình mục tiêu Quốc Gia XDNTM tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang”. Nghiên cứu sử dụng đữ liệu được thu thập vào năm 2020, được tiến hành điều tra hộ gia đình theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn, với tổng số 292 hộ điều tra. Các thông tin thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS và sử dụng phương pháp phân tích hồi quy dé xây dựng mô hình với 7 yếu tố chính ảnh hưởng đến sự hai lòng của người dân đối với kết qua của chương trình XDNTM, gồm: “hệ thống giao thông' > “thủy loi”, “tin dung”, “tổ chức lai sản xuất”, “tiếp cận thị trường”, “chuyền đổi nghề 132C 99 66. 99 66 nghiệp” và “đào tạo lao động”.
Kết quả hồi quy cho thấy có 5 nhân tố chính ảnh hưởng dén sự hài lòng của người dân là “hệ thông giao thông”, tô chức lại sản xuất”, 33. “tiếp cận thị trường”, “chuyên đổi nghề nghiệp” và “đào tạo lao động”. Nghiên cứu 33 6 nhận định chương trình XDNTM mới đã tập trung giải quyết toàn diện các van dé kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường huyện Cai Lay, tỉnh Tiền Giang. Phu và cộng sự (2021) đã thực hiện nghiên cứu “đánh giá các yếu tô ảnh hưởng đến sự hai lòng về sự tham gia va đóng góp của cộng đồng vào chương trình xây dựng nông thôn mới vùng đồng bằng sông Cửu Long (nghiên cứu trường hợp tại tỉnh An Giang)”.
Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 244 hộ gia đình và dùng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích tương quan, hồi quy đa biến dé đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố: dân biết, dân thảo luận, dân tham gia, dân giám sát, dân hưởng lợi và vai trò của chính quyền địa phương đến sự hài lòng của người dân trong quá trình XDNTM.