Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu quốc tế 1. Sự khác biệt về báo cáo tài chính Các nghiên cứu tập trung vào ba khía cạnh: (i) Mức độ hòa hợp của IAS/IFRS, mức độ hội tụ kế toán; (ii) sự khác biệt về BCTC; (iii) thực trạng BCTC của một số nước và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện BCTC. Mức độ hòa hợp của IAS/IFRS, mức độ hội tụ kế toán Tay và Parker (1990) đưa ra một mô hình giải thích khái niệm “hòa hợp”, theo đó hai dạng hòa hợp là “quy định” (de jure) và “thực tế” (de facto).
Với dạng thứ nhất, sự hòa hợp diễn ra trên các quy định kế toán của tổ chức lập quy. Trong khi đó, dạng thứ hai là việc áp dụng trên thực tế của các công ty. Garrido và cộng sự (2002) nghiên cứu hòa hợp quy định bằng cách so sánh mức độ cho phép lựa chọn các phương pháp kế toán của IAS qua các giai đoạn A (1973 - 1988), B (1989 - 1995) và C (1995 về sau); với kết quả là: IASC đã thực hiện được một tiến trình hòa hợp đáng kể thông qua các IAS được ban hành và chỉnh sửa, bổ sung. Kết quả của hai nghiên cứu này khá tương đồng, song các nghiên cứu đều được thực hiện trong giai đoạn kinh tế thế giới chưa phát triển mạnh, mặt khác các nghiên cứu còn hạn chế về phương pháp nghiên cứu.
Hòa hợp kế toán thực tế đã được Nobes (1990), Vandertas (1992) và Lainez (1999) nghiên cứu. Nobes (1990) nghiên cứu BCTC của 200 công ty đa quốc gia niêm yết tại Hoa Kỳ về các quy định của IAS 3, 4 và 22; kết quả là có ít hơn 50% công ty được khảo sát tuân thủ quy định. Vandertas (1992) nghiên cứu BCTC của 154 công ty niêm yết châu Âu trong thời gian 1978 - 1988 về kế toán thuế TNDN hoãn lại; tác giả khẳng định có sự tăng lên của sự hòa hợp, nhất là đối với BCTC hợp nhất và các nội dung chỉnh hợp trong thuyết minh. Trong khi đó, Lainez (1999) nghiên cứu BCTC của 31 công ty niêm yết tại Tây Ban Nha năm 1995; kết quả là mức độ hòa hợp trung bình đối với phương pháp chuẩn và ở mức khá đối với phương pháp thay thế.
Mặc dù kết quả nghiên cứu của 3 nghiên cứu trên là khá giống nhau, tuy nhiên nghiên cứu của Lainez (1999) có mẫu nghiên cứu nhỏ. Robert (2002) phân tích những ảnh hưởng của sự đổi mới kế toán, sự lựa chọn của tiêu chuẩn kế toán quốc tế. Bello (2003) xem xét liệu các tiêu chuẩn kế toán hoặc các yếu tố thể chế là yếu tố quyết định chính của sự khác biệt về giá trị thích hợp của các số liệu kế toán giữa các nước. Mục đích của nghiên cứu này là để điều tra thực nghiệm các mối quan hệ giữa số liệu kế toán và giá trị thị trường để xác định xem có sự khác 7 biệt về giá trị của số liệu kế toán ở Saudi Arabia và Kuwait.
Tác giả xác định rõ các CMKT là các yếu tố quyết định chính đối với giá trị của số liệu kế toán giữa các nước. Gulam (2002), tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng của thông tin kế toán khác biệt đến những nhà phân tích chứng khoán / tài chính chuyên nghiệp, những người mà đóng một vài trò quan trọng trong thị trường vốn. Chủ đề thực nghiệm trong nghiên cứu này được chia ra thành hai nhóm. Một nhóm được trình bày với thông tin tài chính và kế toán của một công ty đa quốc gia ở châu Âu, được điều chỉnh bởi những chuẩn mực tính toán quốc tế và nhóm khác được trình bày với thông tin tài chính và kế toán của cùng công ty được điều chỉnh bởi GAAP của Mỹ.
Như vậy, tác giả cho rằng, có mối liên hệ giữa thông tin kế toán với nhân tố kinh tế (thị trường vốn). Theo khảo sát của Baker và Barbu (2007) giai đoạn từ những năm 1960 đến 2004 có 214 bài báo đề cập đến quá trình hòa hợp kế toán quốc tế của 66 tạp chí. Các bài báo này tập trung vào những nội dung cơ bản như tranh luận về sự thống nhất trong kế toán, những nhân tố ảnh hưởng đến môi trường kế toán, so sánh CMKT quốc gia với nhau và với IAS/IFRS, quá trình hòa hợp kế toán quốc tế. Trong đó, các nghiên cứu về hòa hợp kế toán bắt đầu phát triển từ năm 1973 sau khi IASC được thành lập.
Tuy nhiên phải đến cuối thế kỷ 20, những nghiên cứu về việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế tại các quốc gia cụ thể mới được công bố nhiều, mặc dù tập trung vào một số quốc gia được quan tâm như Đức, Trung Quốc, Nhật… IASB sử dụng thuật ngữ “hội tụ” thay thế cho thuật ngữ “hòa hợp” trong mục tiêu hoạt động của mình. Zeff (2007) giải thích IASB chuyển sang sử dụng khái niệm hội tụ nhằm gia tăng tính so sánh của các chuẩn mực ở một mức chất lượng cao. Zhang & Wu (2010) cho rằng hòa hợp và hội tụ không đối lập với nhau, cả hai thuật ngữ này phản ảnh quá trình phát triển của CMKT ở những mức độ khác nhau. Từ năm 2005, EU đã chấp thuận áp dụng các IAS/IFRS.
Sau đó, các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ… tiếp tục được quan sát tỉ mỉ bởi các nghiên cứu trong giai đoạn này (Peng và cộng sự, 2008; Verriest và cộng sự, 2011; Ramanna, 2011). Nhiều quốc gia châu Á khác cũng được xem xét về mức độ và cách thức hội tụ như Malaysia (Laili, 2008), Indonesia (Lasmin, 2011a), Singapore (Carlin và cộng sự, 2010)…Nguyen &Tran (2012) đề cập đến những khó khăn của việc tồn tại song song hệ thống CMKT và chế độ kế toán trong quá trình hòa hợp kế toán quốc tế. Lisa (2012) nghiên cứu nhận định của các đối tượng khác nhau về hệ thống kế toán Việt Nam sau khi có một số chuẩn mực KTVN ra đời. Bên cạnh đó, các nghiên cứu khác tập trung vào xem xét mối quan hệ giữa quá trình đổi mới kinh tế Việt Nam và cải cách kế toán Việt Nam để nhận định các kết quả 8 đạt được cũng như trở ngại của quá trình hòa hợp kế toán (Nguyen & Tran, 2012, Nguyen & Richard, 2011).
Song các nghiên cứu này được thực hiện với quy mô mẫu khá nhỏ, được thực hiện trong thời điểm kinh tế Việt Nam và phát triển của khoa học công nghệ chưa phát triển mạnh như hiên nay. Ngoài các nghiên cứu là bài báo, một số nghiên cứu là luận án cũng đề cập đến vấn đề này: Hui (1993) thảo luận về việc hoà hợp của IAS/IFRS, đó là một trong trong những vấn đề khó khăn nhất trong kế toán chuyên nghiệp. Tác giả phân tích trường hợp thực tế cải cách kế toán của Trung Quốc về sự hòa hợp của IAS/IFRS. Tác giả cho rằng, kinh tế thế giới có nhiều biến động, do vậy cần một IAS/IFRS được thừa nhận bởi tất cả các nước trên thế giới.
Tác giả kết luận: Hòa hợp của IAS/IFRS có được sự thành công cần một quá trình lâu dài, bởi vì cần nhiều thời gian để thay đổi các tiêu chuẩn kế toán trong từng quốc gia, nó có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và tính chuyên nghiệp giữa các quốc gia là khác nhau. IASC sẽ cố gắng để đạt được mục tiêu hòa hợp của IAS/IFRS vì lợi ích to lớn cho xã hội con người. Nền kinh tế thế giới và chính trị hội tụ vào trong một mô hình chung sẽ thúc đẩy sự hòa hợp của IAS/IFRS. Chunyan (2001) khảo sát tác động của IAS/IFRS về đo lường và khai báo thông tin.
Tác giả khẳng định, việc áp dụng IAS/IFRS ở một mức độ nào đó làm thay đổi thực hành đo lường kế toán của DN. Có sự khác biệt đáng kể trong đo lường kế toán giữa IAS/IFRS và GAAP của quốc gia đó. Kết quả cũng cho thấy rằng việc áp dụng IAS/IFRS đã cải thiện sự hài hoà, hội tụ … trong đo lường kế toán. Mặc dù vẫn có những khác biệt đáng kể trong đo lường kế toán, sử dụng IAS/IFRS giữa các nước, mức chênh lệch nhiều hơn so với đo lường sử dụng GAAP của quốc gia đó.
Kết quả nghiên cứu cho thấy khá giống với các nghiên cứu trước, song các nghiên cứu này có hạn chế về phương pháp nghiên cứu và được thực hiện tại thời điểm nền kinh tế Trung Quốc chưa phát triển mạnh. Michael (2011) phân tích tác động của IFRS và môi trường thể chế đến kế toán so sánh được và các thông tin liên quan. Các chỉ tiêu được xác định bằng cách so sánh, chẳng hạn như so sánh thu nhập của DN thông qua thu nhập do kế toán cung cấp. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nếu chỉ sử dụng IFRS thì không thể đạt được sự hiệu quả như mong muốn của các nhà quản lý, các nhà đầu tư… Thay vào đó, giống như tất cả các tiêu chuẩn kế toán, IFRS yêu cầu có sự hỗ trợ của các tổ chức khi đó mới đáp ứng được kỳ vọng đặt ra cũng như quá trình thực hiện là đáng tin cậy.
Pham và cộng sự (2011) đánh giá mức độ hòa hợp của chuẩn mực KTVN với IAS/IFRS, xem xét mức độ hội tụ trên cơ sở các quy định (de jure) của các chuẩn mực KTVN với IAS/IFRS. Kết quả là mức độ hội tụ về mặt đo lường là 75,8%, mức độ trình bày thông tin là 61,9%. Bằng việc khảo sát 200 BCTC năm 2010 của các DN 9 niêm yết trên TTCK Việt Nam, Pham (2012) cho rằng trong giai đoạn 2001-2005, mức độ hội tụ trên cơ sở các quy định (de Jure) của chuẩn mực KTVN so với IAS/IFRS ban hành cho đến năm 2003 đạt 84%. Tuy nhiên, khi mà IAS/IFRS được sửa đổi, bổ sung, còn chuẩn mực KTVN chưa kịp cập nhật thì mức độ hội tụ này giảm xuống còn 62%.
Đồng thời, tác giả cũng cho thấy về mặt hội tụ thực tế (de facto) thì các DN tuân thủ chuẩn mực KTVN đạt 80% trong khi đó mức độ tuân thủ IAS/IFRS là 67%. Sự khác biệt về báo cáo tài chính Krzywda và Schroeder (2007) đã phân tích BCTC của 225 công ty được niêm yết trên TTCK Warsaw từ năm 2001 đến 2004, nghiên cứu khác biệt giữa CMKT Balan và IFRS. Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa BCTC theo CMKT Ba Lan và IFRS có sự khác biệt về bất động sản, đất đai và công cụ, lợi thế thương mại, ghi nhận và đo lường doanh thu, chi phí, công cụ tài chính, tài sản vô hình, hợp nhất kinh doanh, thuê và đầu tư bất động sản.