CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG CỦA NHÂN VIÊN ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC 1. SỰ HÀI LÒNG CỦA NHÂN VIÊN ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC 1. Định nghĩa Có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự hài lòng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên đối với công việc. Sự hài lòng này được định nghĩa và đo lường theo cả hai khía cạnh: hài lòng chung đối với công việc và hài lòng với từng thành phần của công việc.
Định nghĩa về sự hài lòng chung trong công việc: Theo Vroom (1964), sự hài lòng trong công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức Theo Locke (1976), sự hài lòng trong công việc được hiểu là người lao động thực sự cảm thấy thích thú đối với công việc của họ Theo Quinn và Staines (1979), sự hài lòng trong công việc là phản ứng tích cực đối với công việc Theo Spector (1997) sự hài lòng trong công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào Còn Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng, đó là thái độ (tích cực hay tiêu cực) dựa trên sự nhận thức về công việc hoặc môi trường làm việc. Tức là môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì sự hài lòng với công việc càng cao. So với những quan điểm về sự hài lòng trên, định nghĩa về sự hài lòng của Weiss (1967) là đầy đủ và bao quát hơn cả: Sự hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động [1] (luan.03 download by : skknchat@gmail.03 6 Định nghĩa về sự hài lòng với các thành phần công việc: Theo Smith, Kendal và Huilin (1969), sự hài lòng với các thành phần hay khía cạnh của công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về khía cạnh khác nhau trong công việc (bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương) của họ. [1] Còn Schemerhon (1993), Kreitner và Kinicki (2007) định nghĩa sự hài lòng trong công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc như: vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ, và các phần thưởng gồm: thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cũng như cơ cấu của tổ chức.
[1] Các cách tiếp cận đều phù hợp cho việc đo lường mức độ thỏa mãn của nhân viên trong công việc, tuy nhiên sử dụng cách tiếp cận theo thành phần của công việc sẽ giúp các nhà quản trị biết rõ hơn về những điểm mạnh, điểm yếu trong việc điều hành tổ chức và hoạt động nào được nhân viên đánh giá cao nhất hoặc kém nhất. Do đó, khi nghiên cứu cần kết hợp việc xem xét cả mức độ hài lòng chung lẫn sự hài lòng của từng khía cạnh của công việc. Tóm lại sự hài lòng trong công việc của nhân viên có được khi họ có cảm giác thích thú, thoải mái và thể hiện phản ứng tích cực đối với các khía cạnh công việc của mình. Ý nghĩa của việc mang lại sự hài lòng cho nhân viên Một khi nhân viên có được sự hài lòng đối với công việc, điều đó thực sự mang lại nhiều lợi ích đối với tổ chức và xã hội.
Hài lòng về công việc, nhân viên sẽ tự hoàn thiện mình, giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu và giúp cho xã hội ngày càng phát triển. Mặc dù, sự hài lòng của nhân viên không thể mang lại mọi thành công cho doanh nghiệp nhưng ta cũng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của nó trong hoạt động của mọi doanh nghiệp. Người lao động (luan.03 download by : skknchat@gmail.03 7 vừa là tài nguyên vừa là chi phí của doanh nghiệp. Doanh nghiệp luôn phải đương đầu với vấn đề làm sao để có thể sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả và tránh lãng phí tối đa nguồn tài nguyên này.
Mà việc mang lại sự hài lòng cho nhân viên là con đường duy nhất để doanh nghiệp có thể thực hiện tốt mục tiêu đó. Mối quan hệ giữa nhân viên, khách hàng, sự hoàn thành công việc và tổ chức đã được các nhà nghiên cứu (Heskett, Sasser và Schlesinger, 1997) phân tích và rút ra mối liên kết thể hiện qua chuỗi lợi nhuận dịch vụ. [15] Heskett mô tả những mối liên kết trong chuỗi như sau: “Lợi nhuận và sự phát triển được kích thích chủ yếu bởi lòng trung thành của khách hàng. Lòng trung thành là kết quả trực tiếp của sự hài lòng khách hàng.
Sự hài lòng chịu ảnh hưởng lớn bởi giá trị phục vụ khách hàng. Giá trị được tạo ra bởi năng suất của nhân viên. Lòng trung thành của nhân viên điều khiển năng suất và lòng trung thành là kết quả của việc nhân viên được hài lòng. Sự hài lòng nhân viên đối với công việc chủ yếu được tạo ra từ những hỗ trợ chất lượng cao của nhà lãnh đạo và các chính sách của tổ chức mà nó cho phép nhân viên mang đến những kết quả tốt cho khách hàng”.03 download by : skknchat@gmail.
Chuỗi lợi nhuận dịch vụ (Heskett, 1997) Dựa vào chuỗi lợi nhuận dịch vụ, có thể thấy rằng chất lượng dịch vụ bên trong của một môi trường làm việc đã góp phần lớn cho sự hài lòng của nhân viên. Chất lượng dịch vụ bên trong được đo lường bằng những nhận thức mà nhân viên hướng đến công việc, đồng nghiệp và Công ty của họ. Chất lượng dịch vụ bên trong có một ảnh hưởng nhất định đến năng lực phục vụ của nhân viên. Chẳng hạn như năng lực, quyền hạn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Năng lực phục vụ làm gia tăng năng suất của nhân viên và chất lượng đầu ra. Hơn nữa, năng suất của nhân viên ảnh hưởng tới giá trị (luan.03 download by : skknchat@gmail.03 9 dịch vụ được nhận thức bởi khách hàng. Giá trị dịch vụ được hiểu như là những kết quả khách hàng nhận được trong mối quan hệ với tổng giá (bao gồm cả giá và những chi phí khác mà khách hàng phải trả nếu có được sự phục vụ). Giá trị dịch vụ có một sự kết nối rõ ràng với sự hài lòng của khách hàng, điều này quyết định nên lòng trung thành của khách hàng.
Cuối cùng, lòng trung thành của khách hàng góp phần làm gia tăng doanh thu và lợi nhuận của Công ty. CÁC LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NHÂN VIÊN ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC Hài lòng công việc bắt nguồn từ tâm lý tổ chức và lý thuyết động viên. Theo Green (2000), các lý thuyết kinh điển về thỏa mãn công việc có thể phân chia thành 3 nhóm chính: ***Lý thuyết nội dung với hai lý thuyết nền tảng là thang nhu cầu của A. Maslow (1954) và lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1966), chỉ ra rằng việc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sẽ tạo ra sự thỏa mãn công việc ***Lý thuyết quá trình (như lý thuyết của Vroom) giải thích sự hài lòng đối với công việc là sự tác động của 3 mối quan hệ (1) kì vọng, (2) giá trị, (3) mong muốn.
***Lý thuyết hoàn cảnh lại cho rằng sự hải lòng với công việc là tác động qua lại của ba biến là (1) cá nhân, (2) công việc và (3) tổ chức. Lý thuyết của David Mc. Clelland David Mc. Clelland (dẫn theo dẫn theo Robbins, 2002) cho rằng con người có ba nhu cầu cơ bản là : nhu cầu thành tựu, nhu cầu liên minh và nhu cầu quyền lực.
Trong đó: (1) Nhu cầu thành tựu Người có nhu cầu thành tựu cao là người luôn theo đuổi việc giải quyếtcông việc tốt hơn. Họ muốn vượt qua các khó khăn, trở ngại. Họ muốn (luan.03 download by : skknchat@gmail.03 10 cảm thấy rằng thành công hay thất bại của họ là do kết quả của những hành động của họ.Điều này có nghĩa là họ thích các công việc mang tính thách thức. Những người có nhu cầu thành tựu cao được động viên làm việc tốt hơn.
Đặc tính chung của những người có nhu cầu thành tựu cao: - Lòng mong muốn thực hiện các trách nhiệm cá nhân - Xu hướng đặt ra các mục tiêu cao cho chính họ. − Nhu cầu cao về sự phản hồi cụ thể, ngay lập tức - Nhanh chóng, sớm làm chủ công việc của họ (2) Nhu cầu liên minh Cũng giống như nhu cầu xã hội của A. Maslow, đó là được chấp nhận tình yêu, bạn bè, etc. Người lao động có nhu cầu này mạnh sẽ làm việc tốt những công việc tạo ra sự thân thiện và các quan hệ xã hội (1) Nhu cầu quyền lực Là nhu cầu kiểm soát và ảnh hưởng đến người khác và môi trường làm việc của họ.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng người có nhu cầu quyền lực mạnh và nhu cầu thành tựu có xu hướng trở thành các nhà quản trị. Một số người còn cho rằng nhà quản trị thành công là người có nhu cầu quyền lực mạnh nhất, kế đến là nhu cầu thành tựu và sau cùng là nhu cầu cần liên minh. Lý thuyết kì vọng của Vroom Nhà tâm lý học Victor H. Vroom (1964) cho rằng con người sẽ được thúc đẩy trong việc thực hiện những công việc để đạt tới mục tiêu nếu họ tin vào giá trị của mục tiêu đó, và họ có thể thấy được rằng những công việc họ làm sẽ giúp họ đạt được mục tiêu.
Lý thuyết của Vroom khẳng định rằng động cơ thúc đẩy con người làm việc sẽ được xác định bởi giá trị mà họ đặt vào kết quả cố gắng của họ, được nhân thêm bởi niềm tin mà họ có. Nói cách khác, Vroom chỉ ra rằng động cơ thúc đẩy là sản phẩm của giá trị mong đợi mà con người đặt vào mục tiêu và những cơ hội mà họ thấy sẽ hoàn thành (luan.03 download by : skknchat@gmail.03 11 được những mục tiêu đó. Thuyết của Vroom có thể được phát biểu như sau : Động cơ thúc đẩy = Mức ham mê x Niềm hi vọng Khi một người thờ ơ với việc đạt mục tiêu thì mức ham mê coi như bằng không; và mức ham mê sẽ có dấu âm khi con người phản đối việc đạt tới mục tiêu đó. Kết quả củA cả hai trường hợp đều không có động cơ thúc đẩy.
Tương tự, một người có thể không có động cơ thúc đẩy nào để đạt tới mục tiêu nếu hy vọng là số không hoặc số âm 1. Mô hình động cơ thúc đẩy của Porter và Lawler L.