Chương 1. Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu sự hài lòng vẻ dich vu BT - GPMB Chương 2. Thực trạng công tác giải phóng mặt bằng trên địa bản huyện Điện Bàn Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu. Chương Š: Một số giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân đối với việc giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Điện Bản CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG VÈ DỊCH VỤ BT - GPMB 1. CÔNG TÁC GPMT VA LY THUYET VE CHAT LUQNG DỊCH VU VA SỰ HÀI LÒNG 1. Khi ìm, đặc điểm và sự cần thiết của công tác GPMB 1.
Khái niệm và đặc điỗm - Khái niệm: GPMB là quá trình một tổ chức thực hiện các công việc liên quan đến di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng. một công trình mới. Công tác GPMB được thực hiện từ khi thành lập Hội đồng GPMB quận, huyện của dự án cho tới khi giao mặt bằng cho chủ đầu tư. - Đặc điểt © Là quá trình thực hiện đa dạng : mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất nhất định với mỗi quy mô khác nhau, do đó việc thực hiện công tác GPMB cũng thê hiện khác nhau tủy thuộc từng dự án.
© Tính phức tạp : dat dai nhà ở có vai trò quan trọng nên khi GPMB cũng gặp. phải nhiều khó khăn. Ở các đô thị lớn, do đất có giá trị kinh tế cao nên đa số người dân không muốn di chuyên chỗ ở do bị mất một số điều kiện thuận lợi khi phải ở nơi khác. Mặt khác, do sự hình thành lâu đời của đất đai, nó được sở hữu do nhiều chế độ nhiều chủ sở hữu, việc xác định rõ đặc điềm của từng thửa đất nên rất khó.
cho công tác kê khai, phần khác nó cũng ảnh hưởng bởi Luật Đắt đai và các chính. sách được thực hiện trong công tác xác định giá đền bù không thỏa đáng cho người dân trong diện cần GPMB dẫn tới tình trạng chây lì không chịu di chuyển. Khi thực hiện di dời, điều quan trọng là bố trí đất cho khu vực tái định cư thì lại chưa đảm bảo do các nguyên nhân khác nhau như không có đất, thiếu các điều kiện sinh hoạt. GPMB được thực hiện ở các khu vực dân cư có đời sống kinh tế thấp, chủ yếu là buôn bán nhỏ, do vậy họ sẽ không muốn di chuyển vì phải tìm một công việc khác 10 thích hợp với nơi ở mới.
Sự cần thiết của công tác GPMB. Hiến pháp năm 2013, Điều 54 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tải sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Luật đất đai năm 2013, Điều 4 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do. Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thông nhất quản lý.
Nhà nước trao quyền sử dụng, đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày. Như vậy là trong các văn bản pháp luật của Nhà nước đã quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và Nhà nước giao cho các tổ. chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Từ đó đặt ra yêu cầu là phải xác lập một cơ chế thê hiện quyền sở hữu đất đai sao cho phù hợp, có nghĩa là xác lập.
cách thức tạo ra sự thống nhất giữa hai quyền năng là quyền sở hữu pháp lý và quyền sử dụng thực tế về đất đai. Việc quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do. Nhà nước thống nhất quản lý, tạo cơ sở pháp lý khi Nhà nước thu hỏi đất, thực hiện. giải phóng mặt bằng phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống, lợi ích.
quốc gia, lợi ích công cộng. Tuy nhiên khi Nhà nước giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ôn định lâu dài quỹ đất đai, tức là đã tạo cho họ quyền sử dụng. thực tế về đất đai, quyền khai thác các tính năng của đất đai phục vụ cho lợi ích. kinh tế và đời sống.
Cho nên khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện giải phóng mặt bằng, để đảm bảo không ảnh hưởng đến đời sống, lợi ích kinh tế thì cần thiết phải bồi thường thiệt hại. Mặt khác trong điều 27 Luật Đất đai đã ghi rõ: “Trong trường, hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dung dat dé sir dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được bôi thường hoặc hỗ trợ. Việc bồi thường hoặc hỗ trợ được. thực hiện theo quy định của Chính phú”.
Lý thuyết về chất lượng dịch vụ 1. Định nghĩa Có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dich vụ đã được đưa ra phân tích và thảo luận, nhưng nhìn chung người ta định nghĩa chất lượng dich vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được. Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau. Theo Joseph Juran & Frank Gryna “chất lượng là sự phù hợp đối với nhu cầu”.
Theo Armand Feigenbaum “chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phâm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những. yêu cầu của khách hàng- những yêu cầu này có thê được nêu ra hoặc không nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn - và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh”. Theo American Society for Quality “Chất lượng thê hiện sự vượt trội của hàng. hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu.
và làm hài lòng khách hàng”. Theo Peter Senge et al. “chất lượng là một quá trình chuyên đôi theo phương, thức chúng ta suy nghĩ và làm việc cùng nhau, theo phương thức mà chúng ta đánh. giá và ban tặng và theo phương thức mà chúng ta đo lường sự thành công.
Tắt cả chúng ta phối hợp với nhau thiết kế và vận hành hệ thống giá trị gia tăng đi kèm với kiểm định chất lượng, dịch vụ khách hàng, cải thiện quy trình, mối quan hệ với nhà cung ứng và mối quan hệ tốt với cộng đồng chúng ta đang phục vụ và trong cộng, đồng mà chúng ta vận hành với mức tối ưu vì một mục đích chung”. Về phía dịch vụ công thì cho rằng: quá trình áp dụng hệ thống quản lý chất lượng trong khu vực công là kết quả phản ánh chân thực quá trình cải cách, đổi mới tư duy quản lý từ *cai trị” sang "phục vụ”. Sở dĩ nói như vậy là vì yêu cầu cơ bản của việc áp dụng hệ thống chất lượng có “sự đồng điệu” nhất định với tư duy “phục vụ” của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Nói cách khác, sự hài lòng của nhân dân lúc này vừa là cái đích cần hướng đến đồng thời cũng là thước đo đánh giá.
hiệu quả hoạt động của mỗi cơ quan hành chính nhà nước trong “chuỗi” cung cấp. 12 dịch vụ hành chính công cho nhân dân. Để quá trình cải cách hành chính đáp ứng. được yêu cầu của thời đại trước tiên phải đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn khách.
quan (hội nhập, phát triển) và yêu cầu chính đáng của nhân dân. Do đó, trong quá trình cung ứng dịch vụ hành chính công, các cơ quan nhà nước cần nhận thức rõ tầm quan trọng của sự lắng nghe và tìm hiểu những ý kiến của nhân dân - những. khách hàng của mình. Vấn đề này rất có ý nghĩa đối với các cơ quan hành chính như Ban bồi thường, thiệt hại, giải phóng mặt bằng huyện Điện Bàn, cần được tập trung nghiên cứu, vi kết quả nghiên cứu sẽ là một trong các chứng cứ khoa học phục vụ cho công tác giải phóng mặt bằng đề giao “đất sạch” cho các nhà đầu tư, thu hút đầu tư, xây dựng cơ.
sở hạ tầng nhằm phát triền kinh tế huyện Điện Bàn góp phần vào mục tiêu xây dựng. nước Việt Nam cơ bản trở thành một nước Công nghiệp hoá, hiện đại hoá vào năm 2020 nhưng vẫn thoả mãn các yêu cầu chính đáng của người dân nơi bị giải toả. Các loại khoảng cách trong chất lượng dịch vụ. Dựa trên kết quả phỏng vấn nhóm các nhà quản lý và nhóm khách hàng về chất lượng dich vụ A.
Berry (1985) đã đưa ra mô hình chất lượng dịch vụ chung với 5 khoảng cách (GAP) để đo lường, về chất lượng dịch vụ (hình 1. Khoảng cách 1 (GAP 1): Khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng với nhận thức của nhà quản lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy không phải lúc nào nhà quản lý cũng hiểu rõ nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ, những yếu tố. gì phải có để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và cấp độ thực hiện ra sao đề có.
dịch vụ chất lượng. Sự thiếu hiểu biết này có thê ảnh hưởng đến nhận định về chất lượng của khách hàng. Khoảng cách 2 (GAP 2): Khoảng cách giữa nhận thức của nhà quản lý và diễn giải thành các tiêu chí chất lượng dịch vụ. Khoảng cách này tồn tại vì nhà quản.
lý có thể hiểu được mong muốn của khách hàng, nhưng đôi khi nhà quản lý không. thê lấy thông tin đó đề đưa ra các tiêu chí dịch vụ thích hợp. Ví dụ nhà quan ly mong muốn phục vụ ăn tại bàn chậm nhất là 10 phút sau khi khách hàng gọi 13 (nhanh nhất trong điều kiện có thê), nhưng cũng biết rằng khách hàng mong muốn chỉ trong vòng 5 phút phải có đồ ăn ngay. Điều này có nghĩa là nhà quản lý đã nhận ra điều khách hàng mong muốn, nhưng đôi khi không thể đáp ứng được.
Khoảng cách 3 (GAP 3): Khoảng cách giữa các tiêu chí chất lượng dịch vụ với việc cung cấp dịch vụ. Khi nhà quản lý nhận ra được sự mong muốn của khách hàng, đã thiết kế ra tiêu chuẩn dịch vụ đáp ứng được yêu cầu của khách hảng (quy. định thời gian phục vụ nhanh như khách hàng mong đợi), nhưng trong quá trình. thực hiện nhân viên không thực hiện theo đúng tiêu chuân đề ra.
Khoảng cách này do kỹ năng kém hoặc do nhân viên không sẵn lòng cung cấp dịch vụ tận tâm.