Mở đầu để giới thiệu chung về đề tài; Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Kết quả nghiên cứu và những bàn luận có liên quan; Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách trên cơ sở các số liệu tính toán được từ chương 4. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Dịch vụ hành chính công 2. Khái niệm hành chính công Hành chính (HC) là hoạt động dưới sự lãnh đạo của bộ máy NN cao nhất là chính phủ để TC thi hành pháp luật, bảo đảm hoạt động thường xuyên, liên tục của các cơ quan NN.
Để cấu thành một nền HC công, cần phải kể đến các yếu tố quan trọng về vật chất, phi vật chất và con người. Trong đó, con người chính là đội ngũ CB CC, viên chức đang trực tiếp làm việc tại các cơ quan công quyền trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp xúc và hỗ trợ cho ND và TC đến liên hệ công tác. Yếu tố vật chất bao gồm tất cả những cơ sở hạ tầng, nhà cửa, thiết bị, công dụng cụ và các vật chất khác tạo nên hệ thống hỗ trợ về vật chất cho đội ngũ làm việc và yếu tố phi vật chất đó là các quy trình, các quy định, thủ tục, quy tắc, quy chế có liên quan làm công cụ QL của NN. Đơn vị HC công là đơn vị HC được phân định theo địa giới HC, theo đó đơn vị HC ở Việt Nam được chia thành ba cấp: cấp tỉnh, huyện, xã.
Tương ứng mỗi cấp đơn vị HC có HĐND và UBND được TC phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị HC - kinh tế đặc biệt theo Luật TC chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TC Chính phủ và Luật TC chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019; 2. Dịch vụ hành chính công Khái niệm Trên cơ sở quy định về quyền và tính pháp lý được Hiến pháp quy định và giao cho NN, Quốc gia xây dựng quyền và nghĩa vụ của của mỗi ND, mỗi TC, DN trong và ngoài quốc doanh cần phải thực hiện tuân thủ các quy định của Pháp luật. Để việc thực thi quyền và nghĩa vụ này được trôi chảy và đúng luật, các cơ quan công quyền được thiết lập nên để tham gia giải quyết các công việc có liên quan. Quá trình giải quyết các công việc liên quan này được gọi là việc thực hiện dịch vụ hành chính công (DVHCC).
DVHCC được NN giao cho nhiều chức năng khác nhau để tham gia vào quá trình phục vụ điều hành và QL đất nước. Trong đó có hai chức năng quan trọng là QL NN và cung ứng DV công. Theo đó, một số nước trên thế giới không phân định thành các chức 8 năng riêng biệt mà gộp chung thành một chức năng và gọi tên ngắn gọn là DV công. Những đặc trưng của dịch vụ hành chính công Dịch vụ HC công có những đặc trưng sau: Một là, về mối liên hệ giữa DVHCC với thẩm quyền NN: Điều này được hiểu là các hoạt động này được triển khai dưới quyền kiểm soát của NN thông qua các cơ quan công quyền thực hiện theo đúng một quy trình thống nhất trên cả nước.
Cụ thể, TC, cá nhân nếu muốn thực thi những hoạt động liên quan thì cần phải có các loại chứng thực, giấy phép, giấy xác nhận các loại ví dụ như giấy khai sinh, giấy phép lái xe, giấy phép đăng ký kinh doanh, giấy tờ photo copy công chứng chẳng hạn. Điều này được NN quy định trở thành vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của ND, TC. Đây là đặc trưng về sự bắt buộc theo quy định của NN vì tự thân mỗi ND, mỗi TC không tự nghĩ ra, cũng không tự mình có nhu cầu đòi hỏi mà thay vào đó là sự tuân thủ làm theo quy định. Từ đó, do có tính chất bắt buộc, ràng buộc nên NN vừa đưa ra quy định nhưng cũng vừa tuyên truyền, khuyến khích ND tuân thủ thực hiện nghiêm túc để góp phần bảo đảm trật tự xã hội và góp phần giúp cho NN dễ dàng trong việc QL và tạo ra trật tự xã hội ổn định đối với mọi hoạt động hợp pháp của ND.
Tự thân của DVHCC là một hoạt động hỗ trợ cho chức năng QL NN. Nhưng đặc trưng này có sự nhập nhằng nhất định giữa một chức năng QL NN thực sự với chức năng phục vụ như một DV thông thường. Hai là, tính chất bình đẳng toàn dân: nghĩa là hoạt động DVHCC là hoạt động được triển khai bình đẳng với mọi ND, mọi TC trên mọi vùng lãnh thổ của cả nước, không có sự phân biệt vùng miền, giới tính, tôn giáo hay bất kỳ một sự thiên vị nào ngoài những quyền ưu tiên dành cho một số đối tượng vì lý do nhân đạo hoặc lý do người có công với đất nước. Theo đó, đối với việc cung cấp DVHCC thì người đến trước được tiếp nhận hồ sơ trước và được giải quyết trước, người đến sau sẽ được giải quyết sau.
Ngoài các đặc trưng vừa được phân tích trong mục này, DVHCC có đặc trưng khác như việc hoạt động của DV này không vì mục đích lợi nhuận, nghĩa là người tham gia vào quá trình tác nghiệp này không hưởng lợi trực tiếp từ các khoản thu nếu có mà được nhận lương từ nguồn ngân sách quốc gia và các khoản thu từ hoạt động DVHCC đều được nộp vào kho bạc NN. Chức năng đơn vị hành chính công 9 Mỗi đơn vị HC có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là: Thứ nhất là chức năng QL NN trên lĩnh vực, ngành của địa phương nhằm đảm bảo trật tự, công bằng xã hội, bao gồm các hoạt động QL và thực hiện nhiệm vụ thông qua các công cụ QL vĩ mô bằng công cụ quản lý của NN, chiến lược, CS, kiểm tra, giám sát và bằng lực lượng CB CC thực hiện nhiệm vụ công vụ. Thứ hai là việc phải cung ứng các DVHCC phục vụ cho lợi ích và nhu cầu chính đáng của ND, ngay cả khi các nhu cầu này có thể phát sinh từ những yêu cầu của phía NN. Các mức độ của phân cấp, phân quyền hành chính Phân cấp HC là sự phân chia các đơn vị HC thành từng cấp theo chiều dọc.
Theo đó, cấp HC ở cấp tỉnh, huyện sẽ có quyền quyết định cao hơn, bắt buộc thực hiện đối với cấp HC ở cấp xã và tương đương. Ở Việt Nam hiện nay mức độ phân cấp HC của chính quyền địa phương thành 3 cấp, đó là: “Cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã”. Ngoài ra, còn có “Đơn vị HC - kinh tế đặc biệt” do Quốc hội thành lập như huyện đảo, xã đảo, đặc khu kinh tế. Quá trình phân cấp chức năng nhiệm vụ theo ngành dọc và ngành ngang trên xuống dưới theo cùng tuyến nhiệm vụ.
Cấp Chính Phủ sẽ được phân tầng đến cấp Bộ, cấp Tỉnh, Quận Huyện, Thị thành, và phường xã cũng là đơn vị HC cấp thấp để triển khai các hoạt động cụ thể đến mỗi hộ gia đình và từng ND. Văn bản pháp quy để có căn cứ thực hiện việc phân cấp QL HC là: “NQ 08/2004/NQ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2004; đồng thời, ban hành Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2001-2010 và giai đoạn 2011-2020 và những năm tiếp theo của Chính phủ”. Văn bản này nêu rõ quá trình phân cấp phân quyền và đặc biệt chú trọng việc phân quyền tại mỗi địa phương đó là: “Vừa tuân thủ quy định của Pháp luật và chủ trương chính sách của Đảng vừa phù hợp với bối cảnh thực tiễn tại mỗi địa phương”. Quá trình triển khai phân cấp phân quyền một cách chặt chẽ, hoạt động thực tiễn có hiệu quả nhằm để: “Góp phần rất lớn vào việc QL và triển khai các hoạt động nhằm ổn định phát triển kinh tế và đem lại sự an sinh xã hội cao cho nhân dân”.
Ngược lại, nếu việc phân cấp phân quyền chồng chéo và hoạt động kém hiệu quả sẽ là nguyên nhân dẫn đến nhiều hệ lụy cho xã hội như tệ nạn xã hội, thất nghiệp, mất trật tự xã hội và 10 nhiều những tệ nạn khác. Sự hài lòng của khách hàng 2. Khái niệm Theo Newstorm & Davis (2004), sự HL của nhân viên liên quan đến việc các nhân viên cảm nhận rằng những kỳ vọng hay mong muốn của nhân viên được đáp ứng thông qua các đặc trưng công việc mà họ nhận được, nó có thể đến từ nội dung công việc, sự phù hợp với công việc. Sự HL này sẽ dẫn đến nhân viên sẽ cảm thấy thích thú hay không thích thú công việc, và đưa ra những quan điểm về công việc của họ trong TC (Masten & Reed, 2002).
Theo Edmans (2012), mỗi người có thể HL hoặc không HL với tổ chức nơi mà họ đã và đang công tác. Một người có thể HL với một yếu tố liên quan đến công việc của mình và không HL với người khác. Newman và cộng sự (2014) cho rằng, trong nhiều thập kỷ, khái niệm sự HL của công việc liên quan đến nhiều yếu tố như: “Công bằng, tuổi thọ, cấp bậc, tiền lương, môi trường làm việc, an ninh, thăng tiến, giám sát viên, đồng nghiệp, QL và các yếu tố cá nhân như gia đình, chính trị, giải trí và tôn giáo”. Nghiên cứu (NC) này kế thừa khái niệm sự HL của Edmans (2012) cho rằng, sự HL là cảm giác đánh giá chung của công việc dựa trên nhiều tiêu chí để cảm nhận về công việc mà nhân viên đang gặp phải.
Sự HL trong công việc thể hiện thông qua sự thể hiện thái độ đối với công việc, đối với khách hàng và đối với các bên có liên quan của nhân viên về việc chấp nhận công việc của mình như thế nào (Sluss & Ashforth, 2008). Đo lường sự hài lòng của khách hàng Có nhiều cách thức để có thể tạo ra được những lợi thế cạnh tranh. Tùy vào đặc điểm kinh doanh hay cung cấp DV của mỗi loại hình cơ quan, doanh nghiệp mà sẽ có cách chọn lựa hình thức lợi thế cạnh tranh khác nhau. Tại các cơ quan HC NN là nơi chuyên cung cấp DV HC công, cũng cần phải có lợi thế cạnh tranh để đem đến sự HL tốt nhất cho ND thông qua việc khảo sát mức độ HL của ND đến trải nghiệm DV HC công tại đây.