Chương 1: Giới thiệu. Chương 2 : Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. 123doc 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng 2.1 Khái niệm Chất lượng dịch vụ Trong marketing chất lượng dịch vụ (service quality) là quan điểm được hình thành từ việc đánh giá một cách tổng thể và lâu dài về dịch vụ. Hay là toàn bộ những tính chất của hàng hóa hay dịch vụ có liên quan đến sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. - “Chất lượng dịch vụ là toàn bộ những tính năng đặc điểm của sản phẩm, dịch vụ làm cho nó có khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng”.
- “Chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ. Sự hài lòng của khách hàng (customer satisfaction) Banchelet (1995): sự hài lòng của khách hàng là phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại kinh nghiệm của họ về sản phẩm dịch vụ. Là sự so sánh giữa mong đợi của khách hàng với cảm nhận về dịch vụ. Nếu cảm nhận tương xứng hoặc vượt những gì khách hàng mong đợi của khách hàng về dịch vụ thì khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng và ngược lại.Trong luận văn này sử dụng định nghĩa về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng theo Philip Kotler, như sau: - Chất lượng dịch vụ là toàn bộ những tính năng đặc điểm của sản phẩm, dịch vụ làm cho nó có khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng - Sự hài lòng của khách hàng là trạng thái cảm giác của khách hàng bắt nguồn từ việc so sánh cảm nhận có được khi tiêu dùng dịch vụ với kỳ vọng về dịch vụ.
Phân biệt sự hài lòng của khách hàng và chất lượng dịch vụ Bảng 2.1 Phân biệt sự hài lòng của khách hàng và chất lượng dịch vụ Sự hài lòng của khách hàng Chất lượng dịch vụ Là trạng thái cảm giác khi tiêu dùng dịch Liên quan đến việc cung cấp dịch vụ và 123doc 6 vụ (Zeithaml and Bitner, 2000) tập trung vào những thành phần cụ thể của dịch vụ Mang tính chất ngắn hạn (Zeithaml and Mang tính chất dài hạn Bitner, 2000) Là khái niệm một phần, mang tính chủ Là khái niệm đa phần, mang tính khách quan quan Mối quan hệ chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng: là mối quan hệ nhân quả. Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ. Các nghiên cứu trước đây cho thấy chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn đến sự hài lòng. Chất lượng dịch vụcàng cao thì sự hài lòng của khách hàng càng cao và ngược lại.
Dịch vụ công - “Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm”.TS Lê Chi Mai, 2009, theo từ điển Le Petit Larousse). - “Dịch vụ công là hoạt động phục vụ các nhu cầu chung thiết yếu, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân do các cơ quan nhà nước thực hiện hoặc ủy nhiệm cho các tổ chức phi nhà nước. Nguyễn Hữu Hoài, Ths. Chất lượng dịch vụ công: Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Hải, Th.S Lê Văn Hòa (2010), chất lượng dịch vụ hành chính công được phản ánh qua các yếu tố: • Mục tiêu của cơ sở: phục vụ nhân dân, thực hiện quản lý của Nhà nước • Đầu vào của cơ quan hành chính: bao gồm hạ tầng cơ sở, yếu tố công chức và yêu cầu của người dân.
• Quá trình, hoạt động của công chức. • Đầu ra: Văn bản, giấy tờ hành chính. • Kết quả của đầu ra, tác động. 123doc 7 Chất lượng dịch vụ giám định: Trung tâm phân tích phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu/ Chi nhánh tại Tp.HCM là đơn vị hành chính, sự nghiệp công.
Đơn vị cung cấp dịch vụ giám định hàng hóa xuất nhập khẩu là một loại hàng hóa, dịch vụ công. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu hoàn chỉnh về chất lượng dịch giám định hàng hóa, cho nên trong bài này, tác giả ngầm hiểu đây là chất lượng dịch vụ công do cơ quan quản lý Nhà nước cung cấp. Tiêu chí đánh giá sẽ được đề cập trong các mô hình lý thuyết về sự hài lòng ở phần tiếp theo.2 Mô hình các yếu tố về sự hài lòng của khách hàng: 2.1Mô hình SERVQUAL (Parasurraman, 1985) Một trong những đặc điểm cơ bản của chất lượng dịch vụ là khó đo lường, khó xác định được tiêu chuẩn chất lượng, nó phụ thuộc vào yếu tố con người là chủ yếu. Chất lượng dịch vụ trước hết là chất lượng con người.
Sản phẩm dịch vụ là vô hình, chất lượng được xác định bởi khách hàng, chứ không phải do người cung ứng. Khách hàng đánh giá chất lượng một dịch vụ được cung ứng thông qua việc đánh giá nhân viên phục vụ của công ty và qua cảm giác chủ quan của mình. Đối với sản phẩm dịch vụ nói chung, chúng ta có thể đo lường chất lượng dịch vụ bởi những đặc điểm riêng biệt của sản phẩm dựa vào mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman. 123doc 8 Thông tin truyền miệng Nhu cầu cá nhân Kinh nghiệm KHÁCH HÀNG Dịch vụ kỳ vọng Khoảng cách 5 Dịch vụ cảm nhận Khoảng cách 4 Khoảng cách 1 Dịch vụ chuyển giao Thông tin đến khách hàng Khoảng cách 3 Chuyển đổi cảm nhận NHÀ TIẾP THỊ của công ty thành tiêu chí chất lượng Khoảng cách 2 Nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng Hình 2.1: Mô hình Servqual (Nguồn: Parasurraman, 1985) - Khoảng cách 1: xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và nhà quản trị cảm nhận về kỳ vọng này của khách hàng.
Điểm cơ bản của sự khác biệt này là do công ty dịch vụ không hiểu biết hết những đặc điểm nào tạo nên chất lượng của dịch vụ mình cũng như cách thức chuyển giao chúng cho khách hàng để thỏa mãn nhu cầu của họ. - Khoảng cách 2: xuất hiện khi công ty dịch vụ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính 123doc 9 dịch vụ. Nguyên nhân chính của vấn đề này là khả năng chuyên môn của đội ngũ nhân viên dịch vụ. - Khoảng cách 3: xuất hiện khi nhân viên dịch vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định.
Trong dịch vụ, các nhân viên có liên hệ trực tiếp với khách hàng và đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tạo ra chất lượng. Tuy nhiên, không phải lúc nào và tất cả nhân viên đều có thể hoàn thành nhiệm vụ theo các tiêu chí đề ra. - Khoảng cách 4: phương tiện quảng cáo và thông tin cũng tác động vào kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Những hứa hẹn trong các chương trình quảng cáo, khuyến mãi có thể làm gia tăng kỳ vọng của khách hàng nhưng cũng sẽ làm giảm chất lượng mà khách hàng cảm nhận được khi chúng không được thực hiện theo đúng những gì đã hứa hẹn.
- Khoảng cách 5: xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng bởi khách hàng và chất lượng mà họ cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm này, một khi khách hàng nhận thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ thì chất lượng của dịch vụ được xem là hoàn hảo. Parasuraman cho rằng chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ 5. Khoảng cách thứ 5 này phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó, nghĩa là các khoảng cách 1, 2, 3, 4.
Vì thế để rút ngắn khoảng cách thứ 5 hay làm tăng chất lượng dịch vụ, nhà quản trị dịch vụ phải nỗ lực rút ngắn các khoảng cách này. Chất lượng dịch vụ= Mức độ cảm nhận- Giá trị kỳ vọng. Sử dụng thang đo SERQUAL gồm 21 biến quan sát, là thang đo hoàn chỉnh về chất lượng dịch vụ đạt giá trị và độ tin cậy, có thể được ứng dụng cho mọi loại hình khác nhau. Tuy nhiên mỗi ngành nghề có nét đặc thù riêng.
Nhiều nghiên cứu cho thấy các thành phần của chất lượng dịch vụ không thống nhất với nhau ở từng ngành dịch vụ, từng thị trường khác nhau.2 Mô hình ACSI (Fornell, 1996, 2000) Chỉ số mô hình sự hài lòng khách hàng của Mỹ - ACSI được phát triển bởi Claus Fornell, dựa trên chỉ số sự hài lòng khách hàng của Thụy Sỹ. 123doc 10 Chỉ số hài hài lòng của khách hàng bao gồm các nhân tố (biến), mỗi nhân tố được cấu thành từ nhiều yếu tố cụ thể (indicators, items) đặc trưng của sản phẩm hoặc dịch vụ. Sự hài lòng khách hàng (customer satisfaction) được định nghĩa như là một sự đánh giá toàn diện về sự sử dụng một dịch vụ và đây chính là điểm cốt lõi của mô hình ACSI. Xung quanh biến số này là hệ thống các mối quan hệ nhân quả (cause and effect) xuất phát từ những biến số khởi tạo như sự mong đợi (expectations) của khách hàng, hình ảnh (image) doanh nghiệp và sản phẩm, chất lượng cảm nhận (perceived quality) và giá trị cảm nhận (perceived quality) về sản phẩm hoặc dịch vụ kèm theo đến các biến số kết quả của sự hài lòng như sự trung thành (customer loyalty) hay sự than phiền của khách hàng (customer complaints).
Trong mô hình chỉ số hài lòng của Mỹ (ACSI), giá trị cảm nhận chịu tác động bởi chất lượng cảm nhận và sự mong đợi của khách hàng. Khi đó, sự mong đợi của khách hàng có tác động trực tiếp đến chất lượng cảm nhận. Trên thực tế, khi mong đợi càng cao, có thể tiêu chuẩn về chất lượng cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm càng cao hoặc ngược lại. Do vậy, yêu cầu về chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng cần phải đảm bảo và được thỏa mãn trên cơ sở sự hài lòng của họ.