Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp xây dựng toàn cầu tiêu thụ khoảng 8 đến 12 tỷ tấn bê tông mỗi năm, kéo theo áp lực khai thác tài nguyên khoáng sản tự nhiên vô cùng lớn. Tại Việt Nam, nhu cầu xây dựng hạ tầng đô thị tăng trưởng nhanh đã đẩy sản lượng khai thác cát vàng và đá tự nhiên lên mức báo động. Việc khai thác cát quá mức gây sạt lở bờ sông, biến đổi dòng chảy và phá vỡ cân bằng hệ sinh thái tại nhiều địa phương, dẫn đến sự khan hiếm nguồn cung và giá cát biến động mạnh từ năm 2017. Song song đó, ngành luyện kim trong nước với hơn 30 nhà máy thép thải ra khoảng 1 đến 1,5 triệu tấn xỉ thép mỗi năm, dự kiến quy mô sản xuất thép sẽ chạm mốc 18 triệu tấn/năm. Nguồn phế phẩm công nghiệp này chiếm dụng diện tích đất bãi thải lớn và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước nếu không được tái chế hợp lý.

Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán tận dụng xỉ thép lò điện hồ quang (xỉ EAF) từ Khu công nghiệp Phú Mỹ 1 (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) để thay thế một phần cát sông trong cấp phối bê tông mác B20. Mục tiêu trọng tâm là xác định hàm lượng thay thế tối ưu theo các tỷ lệ 20%, 40% và 60%, kết hợp khảo sát khả năng cắt giảm từ 5% đến 15% lượng xi măng nhằm hạ giá thành và giảm phát thải carbon. Phạm vi thực nghiệm đánh giá toàn diện các chỉ tiêu cơ lý bao gồm cường độ chịu nén, cường độ kéo uốn, cường độ kéo gián tiếp khi ép chẻ và modul đàn hồi ở tuổi 28 ngày. Ý nghĩa của công trình thể hiện qua việc giảm thiểu đến 40% nhu cầu khai thác cát tự nhiên, đồng thời cải thiện cường độ nén của bê tông lên hơn 13% và cường độ kéo gián tiếp tăng hơn 112%, mở ra hướng phát triển vật liệu xây dựng xanh và bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết phản ứng thủy hóa của chất kết dính vô cơ và lý thuyết cấu trúc chèn chặt cốt liệu trong bê tông xi măng. Thành phần hóa học của xỉ thép EAF phát sinh từ quá trình luyện thép ở nhiệt độ 1600°C chứa hơn 80% các oxit chính gồm Canxi Oxit (CaO), Silic Dioxit (SiO2) và Oxit Sắt (FexOy). Bản chất khoáng vật của xỉ thép chứa các khoáng hoạt tính tương tự clinker xi măng Portland như Tricalcium Silicate (C3S), Dicalcium Silicate (C2S), Tricalcium Aluminate (C3A) và Brownmillerite (C4AF). Nhờ đó, xỉ thép mịn đóng vai trò như một phụ gia khoáng hoạt tính puzolanic, tham gia vào phản ứng thủy hóa thứ cấp tạo gel Calcium Silicate Hydrate (C-S-H) giúp lèn chặt vi cấu trúc đá xi măng.

Các khái niệm cơ bản được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: xỉ thép lò điện hồ quang (EAF Slag), tỷ lệ thể tích lỗ rỗng, phản ứng nở thể tích do hydrat hóa CaO và MgO tự do, cùng chỉ số khối lượng thể tích của cốt liệu. Xỉ thép có khối lượng riêng từ 3,0 đến 3,8 g/cm3, nặng hơn cát sông tự nhiên (2,65 g/cm3) từ 20% đến 25%, độ pH dao động từ 10 đến 11 và độ xốp từ 31% đến 45%. Mô hình tương tác giữa bề mặt góc cạnh của hạt xỉ nghiền và hồ xi măng đóng vai trò cốt lõi giải thích sự gia tăng lực dính kết tại vùng chuyển tiếp cốt liệu - vữa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ quá trình chế tạo và thí nghiệm phá hủy trên hơn 72 tổ mẫu bê tông tại phòng thí nghiệm chuyên ngành thuộc Trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp chọn mẫu thực nghiệm phân tầng được áp dụng để khảo sát hai nhóm cấp phối: nhóm thứ nhất cố định hàm lượng xi măng và thay thế cát bằng xỉ thép ở các mức 0%, 20%, 40%, 60%; nhóm thứ hai đồng thời giảm lượng xi măng (5%, 10%, 15%) kết hợp các tỷ lệ xỉ thép tương ứng. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm phân tách rõ ràng ảnh hưởng độc lập của xỉ thép và khả năng bù đắp cường độ khi chủ động cắt giảm chất kết dính.

Quy trình thử nghiệm tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn hiện hành:

  • Xác định cường độ chịu nén trên mẫu lăng trụ trụ tròn đường kính 10 cm, chiều cao 20 cm theo tiêu chuẩn TCVN 5574:2012.
  • Xác định cường độ chịu kéo gián tiếp bằng phương pháp ép chẻ với tốc độ gia tải 3,5 MPa/s theo tiêu chuẩn TCVN 8862:2011.
  • Xác định cường độ chịu kéo khi uốn 3 điểm trên mẫu dầm kích thước 10 x 10 x 40 cm theo tiêu chuẩn TCVN 6355:1998.
  • Xác định modul đàn hồi tĩnh trên mẫu lăng trụ kích thước 15 x 30 cm theo tiêu chuẩn TCVN 5276:1993 kết hợp hệ thống cảm biến chuyển vị vi sai dọc trục và nở ngang.
  • Quan sát cấu trúc vi mô qua ảnh kính hiển vi điện tử quét (SEM).

Dữ liệu thực nghiệm được xử lý bằng phương pháp hồi quy giải tích bình phương bé nhất để xây dựng phương trình đường cong bậc hai mô tả biến thiên cường độ với độ tin cậy thống kê đạt trên 90%, loại bỏ các sai số thô theo tiêu chuẩn TCVN 4548:2009.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm trên các tổ mẫu bê tông tuổi 28 ngày mang lại những phát hiện quan trọng:

  • Cường độ chịu nén đạt giá trị tối ưu tại mức thay thế 40% xỉ thép cho cát. Đối với cấp phối mác B20 giữ nguyên lượng xi măng, cường độ chịu nén tăng từ 25,73 MPa (mẫu đối chứng 0% xỉ) lên mức đỉnh 29,43 MPa (tăng 13,00%). Tuy nhiên, khi tăng hàm lượng xỉ lên 60%, cường độ nén suy giảm rõ rệt khoảng 10,20% so với mức cực đại.
  • Cường độ kéo gián tiếp (ép chẻ) ghi nhận mức cải thiện vượt bậc, tăng từ 1,74 MPa ở mẫu đối chứng lên 3,70 MPa tại tỷ lệ 40% xỉ thép (tăng 112,64%). Khi vượt ngưỡng 40% lên 60% xỉ, cường độ kéo ép chẻ giảm mạnh 35,00%.
  • Cường độ chịu kéo khi uốn tăng tỷ lệ thuận với cường độ nén, đạt giá trị 10,11 MPa tại mức 40% xỉ thép (tăng 13,63% so với mẫu đối chứng đạt 8,90 MPa) trước khi hạ xuống 9,07 MPa tại mức 60% xỉ.
  • Modul đàn hồi của bê tông xỉ thép dao động ổn định trong khoảng 23,16 đến 25,00 GPa, tăng 8,00% khi bổ sung 40% xỉ thép, hoàn toàn tương thích với các giá trị tính toán theo tiêu chuẩn Eurocode 2. Đồng thời, khối lượng thể tích của bê tông tăng lên trên 2901 kg/m3 do khối lượng riêng của xỉ đạt 3,80 g/cm3.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi giúp bê tông đạt tính chất cơ lý vượt trội tại hàm lượng 40% xỉ thép nằm ở hình thái vi mô của hạt xỉ. Hình ảnh SEM cho thấy bề mặt hạt xỉ sau khi nghiền sàng có độ nhám cao, nhiều góc cạnh sắc nhọn giúp tăng cường lực ma sát và diện tích tiếp xúc với hồ xi măng. Các khoáng C2S và C3S trên bề mặt xỉ thúc đẩy phản ứng tạo tinh thể C-S-H lấp đầy các vi lỗ rỗng trong cấu trúc bê tông. Tuy nhiên, khi hàm lượng xỉ vượt quá 40%, tính háo nước tự nhiên của bột xỉ cùng diện tích bề mặt riêng quá lớn đã hấp thụ một lượng nước đáng kể, làm cản trở quá trình thủy hóa hoàn toàn của xi măng. Đồng thời, lượng hồ xi măng trong cấp phối không còn đủ để bao bọc kín toàn bộ cốt liệu, dẫn đến sự hình thành các khuyết tật vi mô làm suy giảm khả năng chịu lực.

Về phương diện trực quan hóa dữ liệu, mối quan hệ giữa hàm lượng xỉ thay thế cát và các chỉ tiêu cường độ được biểu diễn trực quan thông qua đồ thị hàm hồi quy bậc hai dạng Parabol úp. Đỉnh của đường cong phân bố chính xác tại tọa độ 40% xỉ. Bảng tổng hợp cấp phối chỉ ra rằng khi giảm 5% xi măng, việc bổ sung 17% xỉ thép vẫn bảo đảm bê tông đạt cường độ thiết kế mác B20. Nếu giữ nguyên lượng xi măng và thay thế 37% cát bằng xỉ thép, bê tông có thể nâng cấp độ bền từ B20 (mác 250) lên thẳng B22.5 (mác 300).

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, các giải pháp kỹ thuật và lộ trình ứng dụng vật liệu xỉ thép được đề xuất như sau:

  • Hoàn thiện quy trình tiền xử lý và ổn định thể tích xỉ thép: Các doanh nghiệp luyện kim phối hợp với cơ sở sản xuất vật liệu tiến hành lưu bãi ngoài trời, kết hợp hệ thống phun nước ẩm cưỡng bức trong thời gian tối thiểu 3 đến 6 tháng trước quý IV/2026. Quá trình này giúp triệt tiêu hoàn toàn hiện tượng nở thể tích do hydrat hóa vôi tự do (free-CaO) và oxit magie (free-MgO).
  • Thiết lập định mức cấp phối thay thế chuẩn 40% tại các trạm trộn bê tông: Các đơn vị cung ứng bê tông thương phẩm cần áp dụng tỷ lệ thay thế từ 35% đến 40% cát sông bằng xỉ thép EAF đã qua sàng phân loại hạt mịn dưới 5 mm cho các dòng bê tông mác B20 đến B22.5 trong giai đoạn 2026 - 2028, giúp tiết kiệm 10% đến 15% chi phí cốt liệu mịn.
  • Tối ưu hóa hàm lượng xi măng kết hợp: Kỹ sư thiết kế thành phần bê tông cần chủ động giảm 5% lượng xi măng PC40 và bù đắp bằng 17% bột xỉ thép mịn nhằm duy trì cường độ nén 20 MPa, giúp giảm tiêu hao từ 15 đến 25 kg xi măng trên mỗi mét khối bê tông, cắt giảm phát thải khí nhà kính ngay trong năm 2026.
  • Ban hành hướng dẫn kỹ thuật và tiêu chuẩn chuyên ngành: Cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Xây dựng và Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng cần sớm ban hành Tiêu chuẩn cơ sở (TCCS) về yêu cầu kỹ thuật đối với xỉ thép EAF dùng làm cốt liệu cho bê tông kết cấu trước năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Kỹ sư công nghệ và chuyên viên kiểm soát chất lượng (QC/QA) tại các trạm trộn bê tông: Ứng dụng trực tiếp bảng tra cấp phối tối ưu 40% xỉ thép nhằm nâng cao mác bê tông từ B20 lên B22.5 mà không làm tăng chi phí sản xuất, đồng thời kiểm soát độ sụt thực tế trong phạm vi 8 đến 12 cm.
  • Nhà thầu thi công và đơn vị tư vấn thiết kế hạ tầng: Khai thác ưu điểm về độ mài mòn cao và khối lượng thể tích lớn (trên 2900 kg/m3) của bê tông xỉ thép để ứng dụng vào các hạng mục móng công trình, kè đê chắn sóng, kết cấu chịu tải trọng nặng và mặt đường giao thông.
  • Doanh nghiệp sản xuất thép và các nhà quản lý môi trường công nghiệp: Tham khảo phương án công nghệ biến 1 đến 1,5 triệu tấn xỉ thải EAF mỗi năm thành nguồn nguyên liệu xây dựng có giá trị kinh tế, giải phóng diện tích bãi chứa phế thải và nâng cao hình ảnh doanh nghiệp xanh.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng / Vật liệu Xây dựng: Sử dụng tài liệu làm cơ sở tham khảo cho các nghiên cứu chuyên sâu về vi cấu trúc SEM, mô hình hồi quy bậc hai và ứng xử đàn hồi của bê tông theo tiêu chuẩn TCVN và Eurocode 2.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ thay thế cát bằng xỉ thép tối ưu lại dừng lại ở mức 40%?

Hàm lượng 40% xỉ thép tạo ra tỷ lệ phân bố cỡ hạt tối ưu, giúp bề mặt góc cạnh của xỉ liên kết hoàn hảo với hồ xi măng và đạt cường độ nén đỉnh 29,43 MPa. Vượt quá mức 40%, diện tích bề mặt riêng lớn và tính háo nước của bột xỉ làm thiếu hụt lượng nước thủy hóa, khiến cường độ nén giảm khoảng 10,20%.

Sự nở thể tích của xỉ thép do CaO và MgO tự do được xử lý ra sao trong thực tế?

Xỉ thép EAF sau khi đập thô qua máy kẹp hàm được lưu bãi lộ thiên và phun nước bảo dưỡng định kỳ từ 3 đến 6 tháng. Quá trình này kích hoạt phản ứng hydrat hóa cưỡng bức chuyển hóa toàn bộ CaO và MgO tự do thành dạng hydroxit ổn định trước khi đưa vào phối trộn bê tông.

Bê tông sử dụng xỉ thép có làm tăng tải trọng công trình quá nhiều không?

Khối lượng thể tích của bê tông xỉ thép tăng khoảng 15% đến 20%, đạt mức trên 2900 kg/m3 do khối lượng riêng của xỉ nặng hơn cát tự nhiên. Do đó, vật liệu này thích hợp nhất cho các kết cấu móng, đê kè, sàn công nghiệp hoặc cấu kiện đúc sẵn cần độ ổn định trọng lực cao.

Có thể giảm hàm lượng xi măng khi sử dụng xỉ thép thay thế cát không?

Hoàn toàn khả thi. Bằng cách giảm 5% lượng xi măng PC40 và phối trộn 17% xỉ thép thay cát, bê tông vẫn đạt cường độ chịu nén tương đương mác B20 tiêu chuẩn nhờ hoạt tính khoáng tương tự xi măng có sẵn trong thành phần xỉ EAF.

Xỉ lò điện hồ quang (EAF) có chứa chất thải nguy hại hay kim loại độc hại không?

Xỉ EAF được tách ra khỏi quá trình luyện thép ở nhiệt độ lên tới 1600°C. Ở mức nhiệt độ vượt ngưỡng 1200°C, toàn bộ các hợp chất hữu cơ và chất độc hại dễ bay hơi đều bị tiêu hủy hoàn toàn, tạo nên cấu trúc khoáng vô cơ trơ và an toàn với môi trường.

Kết luận

  • Xác lập tỷ lệ cấp phối tối ưu với 40% xỉ thép EAF thay thế cát tự nhiên, giúp cường độ nén đạt 29,43 MPa (tăng 13%) và cường độ kéo gián tiếp đạt 3,70 MPa (tăng 112,64%).
  • Xây dựng thành công phương trình hồi quy bậc hai mô tả biến thiên cường độ với độ tin cậy thống kê trên 90%, cho phép nâng cấp độ bền bê tông từ B20 lên B22.5 khi dùng 37% xỉ thép.
  • Chứng minh tính khả thi của giải pháp tiết kiệm 5% hàm lượng xi măng kết hợp 17% xỉ thép mà vẫn bảo đảm yêu cầu chịu lực thiết kế của bê tông mác B20.
  • Đóng góp giải pháp công nghệ tuần hoàn vật liệu, mở ra thị trường tiêu thụ cho 1 đến 1,5 triệu tấn xỉ thép công nghiệp phát sinh hàng năm tại Việt Nam.
  • Cung cấp luận cứ khoa học về cơ chế vi cấu trúc SEM và tương quan biến dạng đàn hồi theo tiêu chuẩn TCVN và Eurocode 2 phục vụ thiết kế kết cấu.

Trong giai đoạn 2026 - 2027, các hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng đánh giá độ bền lâu của bê tông xỉ thép trong môi trường xâm thực biển và chu kỳ ăn mòn ion clo. Các doanh nghiệp xây dựng và chủ đầu tư hãy tiên phong ứng dụng giải pháp bê tông xỉ thép ngay hôm nay để đón đầu xu hướng công trình xanh và tối ưu hóa chi phí đầu tư bền vững!