đặt vấn đề về “doanh nhân” vào thế kỷ 19, cho rằng, doanh nhân là người vận hành một doanh nghiệp, cụ thể là một nhà thầu, giữ vai trò trung. gian làm cầu nối giữa vốn và lao động. Ông còn đưa ra một định nghĩa rộng, hơn, doanh nhân là người dịch chuyên các nguồn lực kinh tế từ chỗ có hiệu suất và sản lượng thấp hơn lên hiệu suất và sản lượng cao hơn (trích dẫn từ Lộc (2011)) Aidis (2002) đã nêu ra khái niệm về doanh nhân, là các cá nhân có doanh nghiệp của riêng mình và đang tích cực tham gia vào các hoạt động kinh doanh. Lee-Gosselin và Grise (1990) khẳng định, doanh nhân là những người không chỉ sở hữu, mà còn quản lý các doanh nghiệp của họ.
Cuốn Từ điền tiếng Việt (xuất bản tháng 4-2007) của Trung tâm từ điển học, do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên, doanh nhân được định nghĩa là “Người làm nghề kinh doanh” (trích dẫn từ Tuấn (2007)) Nhà nghiên cứu Vũ Quốc Tuần, trong bài "Doanh nhân - một góc nhìn" trên báo Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần, ngày 13/10/2007, viết về khái niệm. doanh nhân là những người chủ doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh doanh nghiệp của mình, những người được cử hoặc được thuê để quản lý doanh nghiệp, thực hiện nhiệm vụ kinh doanh; trách nhiệm và lợi ích của họ gắn liền với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. 11 Theo Đỗ Minh Cương (2009) cho rằng, doanh nhân Việt Nam hiện nay là một cộng đồng xã hội gồm những người làm nghề kinh doanh, trước hết là bộ phận những người chủ sở hữu, lãnh đạo, quản lý, hoạt động nghiệp vụ kinh doanh của các hộ gia đình và doanh nghiệp. Khái niệm về doanh nhân như trên có thẻ chưa đầy đủ, toàn diện nhưng đã khắc phục được nhiều thiếu sót và bô sung một số điểm mới trong quan điểm của các tác giả đi trước.
Từ những khái niệm trên và hướng nghiên cứu đề tài, tác giả tổng hợp cơ bản về nữ doanh nhân: là những nữ chủ doanh nghiệp, những người sáng lập, sở hữu và điều hành doanh nghiệp. Vai trò của nữ doanh nhân Nghiên cứu của Theurer (2014) kết luận rằng có sự liên kết quan trọng giữa vai trò của phụ nữ trong nền kinh tế và sự thịnh vượng kinh tế đất nước. Thực tế rằng phụ nữ đóng góp quan trọng cho nên kinh tế quốc gia về giải quyết việc làm, tăng trưởng kinh tế và tạo ra của cải đã được nghiên cứu gần đây (Prowess Report, 2005). Nghiên cứu mới của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 2015 cho thấy, Việt Nam xếp vị trí 76 trên tổng số 108 quốc gia về tỉ lệ phụ nữ tham gia quản lý ở mức 23%.
Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng. mối quan hệ tích cực giữa vai trò lãnh đạo của phụ nữ với hiệu quả kinh doanh và kêu gọi tăng tỉ lệ phụ nữ đảm nhận các vị trí lãnh đạo cao nhất (hiện chỉ ở mức 5% trên thế giới) (ILO, 2015) Nghiên cứu của ILO năm 2014 cho rằng Việt Nam với 23% phụ nữ đảm nhận vai trò quản lý trong doanh nghiệp. Theo Điều tra Lao động và Việc làm, tỷ lệ phụ nữ ở vị trí lãnh đạo, quản lý. tăng 0,5% với tỷ lệ 24,4% trong.
năm 2013 so với năm 2012 và tăng lên 0,6% từ năm 2011 đến năm 2012. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng những người phụ nữ tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động là động lực lớn cho sự phát triển và tăng cường khả năng cạnh tranh của toàn cầu (ILO, 2015). 12 Nữ chủ doanh nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình chuyển đổi các nước đang phát triển bởi vì họ có xu hướng sử dụng lao động nữ thường xuyên hơn, giúp giảm phân biệt đối xử về giới trong thị trường lao động và có thể làm giảm nạn buôn bán bởi mở rộng cơ hội kinh tế cho phụ nữ (World Bank, 2011) Tỉnh thần kinh doanh của phụ nữ có một đóng góp đáng kể vào sự phát triển của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế trong những năm gần đây. Vai trò ngày càng quan trọng của họ đã được công nhận bởi Chính phủ và Nhà nước.
Tại Diễn đàn Doanh nhân Việt Nam ngày 06-03-2011 ở Hà Nội, các lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã khẳng định, các doanh nhân nữ Việt Nam là những tắm gương tiêu biểu cho bản lĩnh, sức chịu đựng, sự sáng tạo, năng động và sức vươn lên trong khó khăn, thử thách, đã góp phần tích cực vào việc duy trì sự ôn định và khôi phục, phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội. Trong bài phát biểu về “Vai trò và đóng góp của doanh nhân nữ trong phát triển kinh tế - xã hội”, bà Trần Thị Thủy, Chủ tịch Hội Đồng Doanh nhân nữ Việt nam khẳng định, doanh nhân nữ là lực lượng quan trọng trong hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện, cứu giúp người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và cứu trợ những vùng có thiên tai. Những năm gần đây, đội ngũ nữ doanh nhân Việt Nam không ngừng lớn mạnh đóng góp tích cực vào thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, từng. bước khẳng định được uy tín, thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp trong nước và quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong, khu vực và thế giới William Scheela & Tran Thi Van Hoa (2004) đã khẳng định rằng nữ doanh nhân Việt Nam có năng lực quản lý thời gian và quản lý bản thân tốt hơn nam doanh nhân, chính vì thế mà nữ doanh nhân vừa quản lý và điều 13 hành tốt doanh nghiệp, vừa đảm nhận tốt vai trò của người phụ nữ đảm đang trong gia đình.
Nữ doanh nhân có những ưu thế vượt trội như: sức chịu đựng. bền bi, khả năng cảm nhận tỉnh tế, mềm dẻo, ứng phó linh hoạt với môi trường kinh doanh. Bên cạnh đó, tố chất riêng vốn có của phụ nữ là sức chịu đựng tốt hơn, sự mềm mỏng trong quan hệ xã hội và các đối tác. Các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ đóng góp không nhỏ vào GDP, tạo ra của cải vật chất cho xã hội, tạo việc làm cho người lao động, thực hiện trách nhiệm xã hội cũng như việc góp phần thúc đẩy bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ và tiến bộ xã hội.
Nữ doanh nhân đã thực sự là một thành phần rất quan trọng của đội quân chủ lực đất nước, tiên phong trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, tạo việc làm cho hàng vạn lao động, đóng. góp cho ngân sách nhà nước và hội nhập sâu rộng vào thị trường thế giới và khu vực. Trong bối cảnh hội nhập, nữ doanh nhân Việt Nam được đi đây đi đó, mở mang kiến thức, tầm nhìn trong kinh doanh, vai trò của nữ doanh nhân cũng ngày càng được xem trọng hơn (Thư & Cương, 2015). Những rào căn của nữ doanh nhân trong công việc kinh doanh Nữ doanh nhân phải đối mặt với nhiều trở ngại cả ở giai đoạn đầu của khởi sự doanh nghiệp và khi nỗ lực để phát triển và mở rộng kinh doanh.
Trong vận hành doanh nghiệp, nếu được giải phóng nhiều hơn trong công việc gia đình, nữ doanh nhân tỏ ra mạnh mẽ hơn so với nam giới trong các quyết định kinh doanh (Hampel-Milagrosa cùng cộng sự, 2010). Các cuộc xung đột giữa công việc và gia đình của nữ doanh nhân nhiều hơn so với các doanh nhân nam (Al-Hossienie, 2011; Peeters, Montgomery, Bakker và Schaufeli, 2005). Nghiên cứu của Barwa (2003) về các nữ doanh nhân Việt Nam phải đối mặt với một số bắt lợi do các định kiến và sự bắt bình đẳng giới trong xã hội. 14 Những rào cản mà nữ doanh nhân phải đối mặt như khi tiếp cận vốn vay từ các tổ chức tín dụng do suy nghĩ còn hạn chế về mặt giáo dục, về quyền sở hữu tài sản và sự thay đổi xã hội.
Những khía cạnh liên quan đến sự tiếp cận không công bằng với các cơ hội do hạn chế về kinh nghiệm, kiến thức, mạng. lưới kinh doanh chưa đủ, việc tiếp cận cơ hội đào tạo còn thiếu. Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) đã ghi nhận tình trạng phải đối mặt với các nữ doanh nhân, với sự nhấn mạnh đặc biệt về khía cạnh tăng trưởng như tài chính; tăng việc làm và cải thiện điều kiện lao động. Kết quả từ những nghiên cứu về nữ doanh nhân nêu bật bốn rào cản chính: Thứ nhất là, tiếp cận nguồn vốn Tiếp cận nguồn vốn là một thách thức đối với nữ doanh nhân Việt Nam.
Trong các cuộc điều tra và phỏng vấn, các nữ doanh nhân Việt Nam đã chỉ ra rằng quá trình áp dụng cho các khoản vay từ ngân hàng là công kènh và khó hiểu trong khi với nam. ì không phát sinh vấn đề này (Hội đồng Doanh nhân nữ Việt Nam, 2007). Trong khi các chủ doanh nghiệp là nam giới có xu hướng vay thêm từ ngân hàng nhà nước / chính phủ, một số nữ doanh nhân cho rằng các ngân hàng nhà nước là không linh hoạt và thiếu định hướng dịch vụ khách hàng (International Finance Corporation, 2007). 'Việc hạn chế tiếp cận nguồn vốn cũng có thể hạn chế sự mở rộng của các doanh nghiệp.
Một số nghiên cứu cho thấy nữ doanh nhân ít có khả năng tiếp nhận vốn từ các nhà đầu tư và tín dụng thương mại (Brush, 2006). sát của UNIDO cho thấy nữ doanh nhân trải qua việc tiếp cận nguồn vốn khó khăn nhiều hơn nam giới do vấn đề giới (UNIDO, 2010). Thứ hai là, tiếp cận kiến thức và thông tin Rào cán thường được đề cập trong nghiên cứu về nữ doanh nhân ở các nước đang phát triển là họ thiếu sự đào tạo bài bản trong giáo dục và đào tạo. Họ cũng phải đối mặt với những định kiến xã hội như xu hướng 15 không tin vào tài năng của nữ giới.
Điều này, kết hợp với sự thiếu định hướng. nghề nghiệp, nói chung dường như hạn chế nữ doanh nhân tiếp cận với công. nghệ thông tin, thiếu kỹ năng quản lý, cùng với các vấn đề trong việc tìm kiếm thị trường và mạng lưới phân pI |. Khi hội nhập kinh tế thì bên cạnh rào cản về kiến thức chuyên môn, nữ doanh nhân phải đối mặt với rào cản về ngoại ngữ.
Các mối quan hệ là một yết quan trọng trong các giao dịch kinh doanh ở Việt Nam. Mọi người đều biết rằng 60-70% các giao dịch kinh doanh liên quan đến hợp đồng được ký kết tại các cuộc xã giao với đồ ống. Và không thích hợp cho phụ nữ tham gia vào các cuộc tụ họp như vậy, điều này có thể tạo ra bất lợi cho doanh nghiệp của họ (International Finance Corporation, 2007).