Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ CÂY ĐINH LĂNG LÁ NHỎ 1. Đặc điểm thực vật Cây đinh lăng lá nhỏ có tên khoa học là P.) Harms thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae). Ở Việt Nam, loài này còn có các tên khác như đinh lăng hương, đinh lăng lá xẻ, cây gỏi cá, và nam dương sâm [11, 12].
Đặc điểm hình thái Cây đinh lăng lá nhỏ thuộc cây thân bụi có khả năng mọc xanh tốt quanh năm, chiều cao của cây từ 0,5-2 m. Thân cây có hình tròn, vỏ cây sần sùi nhưng không có gai. Trên thân cây thường có những vết sẹo lồi to do lá rụng, thân cây thường có màu nâu xám. Cây đinh lăng lá nhỏ sử dụng làm thuốc chủ yếu là những cây đinh lăng nhỏ hay còn gọi là đinh lăng nếp, có thân gỗ nhỏ, chiều cao cây thường từ 0,8-1,5 m, thân cây cũng không có gai.
Cây đinh lăng lá nhỏ thuộc họ lá mọc cách, kép lông chim 2-3 lần. Chiều dài lá thường từ 20-40 cm. Những lá chét thường chia thùy nhọn không đều, mặt trên của lá có màu xanh, phần mặt dưới của lá thường bóng hơn. Phần gốc lá và phiến lá có hình dáng thuôn nhọn, dài từ 3-5 cm, rộng từ 0,5-1,5 cm.
Gân lá thường có hình lông chim, phần gân chính thường nổi rõ và có thêm 3 đến 4 cặp gân phụ chia theo từng đường lá. Cuống lá đinh lăng lá nhỏ thường dài, có hình tròn hoặc màu xanh đậm, đôi khi có xuất hiện những đốm lá hình nhạt ở trên cuống. Đáy cuống phình to ra thành bẹ lá. Hoa của cây đinh lăng lá nhỏ thường mọc thành cụm hoa và tụ lại ở phía đầu của ngọn cành.
Hoa đinh lăng lá nhỏ thường là hoa lưỡng tính, mẫu 5. 5 Kích thước hoa khá nhỏ, cuống hoa có hình trụ màu xanh khoảng 0,3-0,4 cm. Lá bắc thường mọc ở gốc cuống của hoa và có hình tam giác nhọn. Bao hoa: đài hoa chỉ có 5 răng và chia đều ra các phía, thường có màu xanh và có hình bầu dục, phần đỉnh thường thuôn nhọn.
Cánh hoa thường dài từ 0,25-0,3 cm, chiều rộng khoảng 0,1-0,15 cm, ở giữa cánh hoa thường có gân. Bộ nhị: có 5 nhị rời và đều, xếp xen kẽ giữa các cánh hoa. Chỉ nhị có dạng sợi mảnh, thường có màu trắng và chiều dài khoảng 0,1-0,15 cm. Bao phấn bên ngoài là 2 ô thuôn dài màu vàng nứt dọc theo chiều dài và hướng vào bên trong, phần bao phấn đính với gốc hoa.
Hạt phấn tách rời và thường có hình cầu 3 lỗ, hạt phấn có màu vàng nhạt và có đường kính từ 30-35 cm. Bộ nhụy: có từ 2-3 lá noãn. Phần bầu dưới có 2-3 ô, mỗi ô chứa một noãn. Đỉnh noãn trung trụ, có tới 2-3 vòi nằm úp sát vào nhau và thẳng đứng, noãn thường có màu xanh đậm, dài khoảng 1 cm.
Phần đầu nhiều hình điểm. Quả đinh lăng lá nhỏ thuộc dạng quả hạch, có hình bầu dục với chiều dài khoảng 4-6 mm, chiều rộng khoảng 3-4 mm. Trên đỉnh quả thường vẫn còn lại vòi nhụy mọc choãi ra, đài vẫn còn. Quả đinh lăng lá nhỏ thường có màu xanh đậm, trên vỏ quả xuất hiện những nốt tròn có màu xanh nhạt [11, 12].
Đặc điểm phân bố và sinh thái Chi Polyscias có gần 100 loài trên thế giới, phân bố rải rác ở các vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới, nhất là một số đảo ở Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, đinh lăng cũng có từ lâu trong nhân dân và được trồng khá phổ biến ở vườn gia đình, đình chùa, trạm xá… để làm cảnh, làm thuốc và gia vị. Đinh lăng lá nhỏ là loại cây ưa ẩm và có thể hơi chịu bóng, trồng được trên nhiều loại đất; thậm chí với một lượng đất rất ít trong chậu nhỏ, cây vẫn có thể sống được theo kiểu cây cảnh bonsai. Trồng bằng cành sau 2-3 năm có 6 hoa quả.
Đinh lăng lá nhỏ có khả năng tái sinh vô tính khỏe, thường được trồng bằng phương pháp giâm cành hay trồng trực tiếp từ đoạn thân hay cành. Đinh lăng có nhiều loài khác nhau, tuy nhiên, đinh lăng lá nhỏ là quan trọng nhất, được sử dụng làm thuốc, làm gia vị và làm cây cảnh [30]. Thành phần hóa học của cây đinh lăng lá nhỏ Chi Polyscias là chi lớn thứ hai trong họ Nhân sâm, cho đến nay trên thế giới chỉ có một số loài của chi Polyscias được nghiên cứu thành phần hóa học như P. murayi Harms và Polyscias sp.
Trong số này, loài P.) Harms được quan tâm và nghiên cứu nhiều nhất [94]. Năm 1998, Huan và cs đã phân lập được 11 saponin triterpen bao gồm ladyginoside A, zingibroside R1, polysicoside A, polysicoside B, polysicoside C, 3-O--D-glucopyranosyl-(14)--D-glucuronopyranosyl oleanolic-28-O- -D-glucopyranosyl ester, polysicoside D, polysicoside E, polysicoside F, polysicoside G, và polysicoside H [49]. Thai và cs (2016) đã phân lập và xác định cấu trúc của 6 hợp chất, trong đó có 1 hợp chất mới từ lá cây đinh lăng lá nhỏ. Các hợp chất này gồm 3 saponin 3-O-β-D-glucopyranosyl-(1->4)-β-D-glucuronopyranosyl-oleanolic acid 28-O-β-D-glucopyranosyl ester, polyscioside D, polyscioside I (chất mới); và 3 flavonoid glycoside afzelin, kaempferol-3-O-α-L- rhamnopyranosyl-(1->6)-β-D-glucopyranosidevà quercitrin [112].
Lá cây đinh lăng lá nhỏ trồng tại An Giang được thu mẫu, chiết và tách phân đoạn bằng kỹ thuật chiết ngấm kiệt và chiết lỏng-lỏng. Kết quả phân lập được 3 hợp chất saponin triterpen bao gồm: Ladyginosid A, acid 3-O-[β-D- glucopyranosyl-(1β4)]- β-D-(6-O-methyl) glucurono-pyranosyloleanolic, 3- 7 O- β -D-glucuronopyranosy-loleanolic 28-O-β-D-glucopyra-nosyl ester [14]. Giá trị dược lý của cây đinh lăng lá nhỏ Tăng lực-chống nhược sức Cao đinh lăng có tác dụng tăng lực ở khoảng liều <180 mg/kg được xác định bằng hai nghiệm thức thực hiện trên chuột nhắt: chuột bơi kiệt sức của Brekhman và chuột leo dây của Cabured [12]. Chống xơ vữa động mạch Cao đinh lăng (90-180 mg/kg thể trọng) làm giảm sự gia tăng cholesterol máu và lipid toàn phần trong huyết thanh của động vật bị gây xơ vữa động mạch thực nghiệm bằng chế độ ăn giàu cholesterol (gây tăng cholesterol ngoại sinh) và bằng Tween 80 (gây tăng cholesterol nội sinh) [12].
Kháng khuẩn Tác dụng kháng khuẩn của cao đinh lăng trên các chủng Staphylococus mạnh hơn trên các chủng vi khuẩn và nấm mốc khác [12]. Chống trầm cảm Cao đinh lăng có tác dụng chống trầm cảm trong thực nghiệm của Porsolt. Cao đinh lăng ở liều 45 mg/kg không có tác dụng chống trầm cảm có ý nghĩa thống kê khi sử dụng 1 lần liều duy nhất nhưng khi cho uống trong thời gian 3-7 ngày thể hiện tác dụng chống trầm cảm [12]. Chống stress Cao đinh lăng làm tăng ngưỡng chịu đựng nhiệt độ nóng của động vật thử nghiệm trong stress vật lý (stress nhiệt độ 37-42oC).
Trên thực nghiệm stress tâm lý (stress cô lập), nhóm đối chứng có những biểu hiện bị stress tâm lý như: thời gian ngủ bị rút ngắn (giảm 30% thời gian ngủ so với nhóm bình thường), có hành vi tấn công khi tiếp xúc với chuột lạ, trạng thái thụ động [12]. 8 Chống oxy hóa Cao lá và saponin lá thể hiện tác dụng ức chế peroxide hóa lipid màng tế bào não, trong khi cao rễ và saponin rễ thì không có tác dụng này. Cao rễ chỉ thể hiện tác dụng ức chế peroxide hóa lipid trong trường hợp có xúc tác của hệ Fenton [12]. Kích thích miễn dịch Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tác dụng của đinh lăng trên chức năng miễn dịch tương tự như bột chiết sâm Việt Nam, thể hiện cả trên cơ địa động vật bình thường và trên cơ địa động vật bị gây suy giảm miễn dịch bằng cyclophosphamid, một chất kìm tế bào thuộc nhóm oxazaphosphorin thường được sử dụng trong liệu pháp chống ung thư [12].
Hạ đường huyết Luyen và cs (2018) đã đánh giá hiệu quả ức chế α-amylase và α- glucosidase của 3-O- [β-d-glucopyranosyl- (1 → 4) -β-d-glucuronopyranosyl] oleanolic acid 28-O-β-d-glucopyranosyl este (PFS), một saponin được phân lập từ lá cây đinh lăng (Polyscias fruticosa) và tiềm năng hạ đường huyết sau bữa ăn trên chuột nhắt trắng. Các tác giả đã nhận thấy, lá đinh lăng và saponin chính PFS có thể được sử dụng để ngăn ngừa và điều trị bệnh đái tháo đường và các biến chứng [70]. Các tác dụng phụ của cây đinh lăng Ngoài các tác dụng kể trên, việc sử dụng đinh lăng không đúng cách cũng có thể gây ra các tác dụng phụ như: hồi hộp, bồn chồn, nôn nao, tim đập nhanh, hơi đau nhói. Một số trường hợp không nên sử dụng loại cây này như phụ nữ đang mang thai hay người bị bệnh gan.
Khái niệm Elicitor có thể được định nghĩa là một chất hoặc một hỗn hợp các chất mà khi đưa một nồng độ phù hợp vào hệ thống tế bào sống sẽ khởi đầu hoặc cải thiện sự sinh tổng hợp các hợp chất đặc trưng. Sự kích kháng (elicitation) là quá trình cảm ứng hoặc tăng cường sinh tổng hợp các chất trao đổi do sự thêm vào một lượng nhỏ elicitor [97]. Phân loại Elicitor được phân loại hoặc dựa trên bản chất tự nhiên của chúng là elicitor phi sinh học và elicitor sinh học, hoặc dựa trên nguồn gốc của chúng là elicitor ngoại sinh và elicitor nội sinh (Bảng 1. Elicitor sinh học là các chất có nguồn gốc sinh vật, bao gồm các polysaccharide có nguồn gốc từ thành tế bào thực vật (pectin hoặc cellulose), các vi sinh vật (chitin hoặc glucans) và các glycoprotein, G-protein hay các protein nội bào có chức năng gắn với các receptor và tác động bằng cách hoạt hóa hoặc bất hoạt một số các enzyme hoặc các kênh ion.
Elicitor phi sinh học là các chất không có nguồn gốc từ sinh vật, chủ yếu là các muối vô cơ và các tác nhân vật lý như ion Cu2+ và Cd2+, Ca2+ và pH cao. Elicitor ngoại sinh là các chất có nguồn gốc bên ngoài tế bào như các polysaccharide, polyamine và các acid béo. Ngược lại, elicitor nội sinh là các chất có nguồn gốc bên trong tế bào như là galacturonide hoặc hepta-β-glucoside,. Phân loại elicitor trong sản xuất các hợp chất thứ cấp [43] Phân loại dựa tính chất tự nhiên của elicitor Là dạng chiết xuất thô hoặc tinh sạch có nguồn gốc từ mầm bệnh (nấm, vi khuẩn, nấm men) hoặc của chính thực vật, có 2 dạng: có thành phần đã biết như polysaccharides, Elicitor Dạng xác glycoproteins, glucans, chitin, chitosan, pectin, sinh học định alginate, xanthan, elicitin, enzyme bất hoạt,.
Dạng chưa có thành phần chưa được xác định như dịch chiết thô xác định nấm men, dịch chiết vi khuẩn, dịch nấm,… Muối và cá Ag2S2O3, AgNO3, CdCl2, CuCl2, CuSO4, kim loại VOSO4, NiSO4, selenium,. nặng Mannitol, sorbitol, sodium chloride, Hóa học Stress thẩm potassium chloride, cadmium chloride, Elicitor phi thấu polyvinyl pyrrolidone,. sinh học Cơ chất NO, ethylene, .