Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học về sức sống và khả năng kháng bệnh Sức sống và khả năng kháng bệnh ở gia cầm là những tính trạng di truyền đặc trưng cho từng loài, giống, dòng, cá thể và được xác định bởi khả năng chống chịu những ảnh hưởng của dịch bệnh và ngoại cảnh môi trường, nó là yếu tố quan trọng giúp chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao. Trong cùng một giống, sức sống của mỗi dòng khác nhau là khác nhau, các cá thể khác nhau thì khác nhau nhưng vẫn nằm trong giới hạn của phẩm giống.
Động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp. Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh. Trong chăn nuôi người ta thường lấy tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn khảo nghiệm, như giai đoạn nuôi từ sơ sinh đến khi giết mổ hoặc loại thải. Tỷ lệ nuôi sống và sức đề kháng bệnh phụ thuộc vào giống, dòng, tính biệt.
Con trống có sức đề kháng mạnh hơn con mái do sự tác động khác nhau của hormone. Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào yếu tố dinh dưỡng, giống, kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu, mùa vụ,… Ngoài các yếu tố trên thì vấn đề nhiễm bệnh của gia cầm cũng là yếu tố cơ bản dẫn đến thất bại trong chăn nuôi. Gia cầm rất mẫn cảm với dịch bệnh, khi mắc bệnh thường lây lan nhanh và dẫn đến tỷ lệ chết cao, dễ kế phát các bệnh khác, đặc biệt bệnh truyền nhiễm. Cơ sở nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý - sinh hóa máu Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu ở gia cầm nói chung khá ổn định, ít biến đổi và được di truyền như các tính trạng khác của con vật.
Việc nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện, dự đoán hoặc có những kết luận chắc chắn hơn về tính trạng sản xuất của gia súc, gia cầm. * Một số chỉ tiêu sinh lý máu - Hồng cầu Máu là tổ chức lỏng, là môi trường bên trong của cơ thể (nội môi) tạo môi trường sống cho tế bào cũng như cung cấp dinh dưỡng và ôxy cho tế bào, mô và toàn cơ thể. Máu gia cầm chiếm 8,5-9% khối lượng cơ thể, có pH là 7,42-7,48, trong máu có hồng cầu. Hồng cầu gia cầm khác với hồng cầu gia súc là chúng có dạng ô van dài, có nhân.
Thời gian sống của hồng cầu là 90- 120 ngày. Phần lớn nitơ và axít amin trong tế bào nằm trong nhân của nó. Số lượng hồng cầu phụ thuộc tuổi, giống, trạng thái khi nghiên cứu máu. Trong 1 mm3 máu có chứa 3,3-3,6 triệu hồng cầu (ở gà mái là 2,5-3,0 triệu, trên 3 triệu ở gà trống).
Bạch cầu chia 2 nhóm là nhóm có bắt màu và nhóm không bắt màu. Trong 1 mm3 máu gà có chứa khoảng 30 nghìn bạch cầu. Số lượng phụ thuộc giống, tuổi, cá thể. Về cấu tạo: Hồng cầu được bao bọc bởi một màng mỏng ở ngoài, bên trong là tế bào chất, còn gọi là cốt huyết cầu, là lipoprotein.
Cốt huyết cầu có hình mạng lưới, xốp, ngấm đầy hemoglobin. Thành phần hóa học: H2O (65-68%), vật chất khô (32-35%), trong đó chất hữu cơ (95-98%), chất vô cơ (2-5%), hàm lượng hemoglobin (75-85%). Hồng cầu có tính đàn hồi, nhớt và tính thấm chọn lọc qua màng tế bào hồng cầu. - Bạch cầu: Bạch cầu là những tế bào có nhân được tạo thành trong tủy xương và các hạch bạch huyết, bạch cầu giữ chức năng bảo vệ cơ thể, chống 5 lại các tác nhân gây hại cho cơ thể.
Số lượng bạch cầu trong máu gia cầm ít hơn so với số lượng hồng. Số lượng bạch cầu tùy thuộc vào tình trạng sinh lý, bệnh lý vật nuôi. Số lượng bạch cầu tăng 2 - 3 giờ sau khi ăn, khi vận động, khi con vật có chửa,… giảm khi tuổi tăng lên. Trong trường hợp bệnh lý, số lượng bạch cầu tăng mạnh khi bị viêm nhiễm, tức khi có sự xâm nhập của vi trùng, vật lạ… giảm khi bị suy tụy, bị nhiễm phóng xạ.
Vì vậy, xác định số lượng bạch cầu có ý nghĩa lớn trong chẩn đoán bệnh. Bạch cầu có tính xuyên mạch, tính di chuyển, tính thực bào, tính chế tiết, tính cảm ứng. - Tiểu cầu: Tiểu cầu là những thể nhỏ trong máu, không có nhân, nó có nhiều hình dạng. Tiểu cầu rất dễ bị vỡ, khi vỡ giải phóng ra men trombokinaza, chất này có vai trò quan trọng trong sự đông máu.
Khả năng sinh trưởng 1. Khái niệm sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do quá trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể, là sự tăng về các chiều cao, dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật. Đồng thời sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất dinh dưỡng chủ yếu là protein, nên tốc độ tích luỹ và sự tổng hợp các chất dinh dưỡng, protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên,1994) [16]. Trần Đình Miên và cs (1975) [17] đã cho rằng: Đứng về phương diện sinh học thì sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, thể tích, khối lượng 6 của các bộ phận trên cơ thể gia súc, quá trình này dựa trên cơ sở tính chất di truyền từ thế hệ trước.
Mozan (1977) đã định nghĩa sinh trưởng là kết quả tích lũy của các bộ phận trên cơ thể như thịt, xương, da (Trích theo Chambers J. Sinh trưởng của gia súc luôn gắn liền với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh các tính chất chức năng hoạt động của các bộ phận trong cơ thể. Hai quá trình có mối quan hệ mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau để tạo nên sự hoàn thiện cho cơ thể gia súc, gia cầm. Sinh trưởng và phát dục của gia súc tuân theo tính qui luật và theo giai đoạn (Trần Đình Miên và cs, 1975) [17].R (1990) [34], sinh trưởng là một quá trình sinh lý sinh hóa phức tạp được duy trì ngay từ khi phôi được hình thành.
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng Để đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm người ta có nhiều cách đánh giá khác nhau, nhưng hiện nay các nhà chọn giống và các nhà chăn nuôi thường áp dụng theo phương pháp định lượng bao gồm: Đo kích thước các chiều đo của cơ thể và định kỳ cân khối lượng. Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm như sau: - Kích thước cơ thể: Kích thước cơ thể là một chỉ tiêu quan trọng cho sự sinh trưởng, đặc trưng cho từng giai đoạn sinh trưởng, từng giống, qua đó góp phần vào việc phân biệt giống. Giới hạn kích thước của loài, cá thể… do tính di truyền quy định. Tính di truyền của kích thước không tuân theo sự phân ly đơn giản theo quy luật Melden.
- Sinh trưởng tích luỹ: là khối lượng, kích thước, thể tích của vật nuôi tích luỹ được qua thời gian khảo sát. Các thông số thu được qua các lần cân đo là biểu thị sinh trưởng tích luỹ của vật nuôi. 7 - Sinh trưởng tuyệt đối (A): là khối lượng, kích thước, thể tích của vật nuôi tăng lên trong một đơn vị thời gian. Đối với lợn, đơn vị sinh trưởng tuyệt đối thường là gam/con/ngày.
- Sinh trưởng tương đối (R): là tỷ lệ % của phần khối lượng (thể tích, kích thước) tăng lên so với khối lượng (thể tích, kích thước) thời điểm cân đo. Đơn vị sinh trưởng tương đối thường là %. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng * Ảnh hưởng của dòng, giống Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cơ thể gia cầm. Trần Đình Miên và cs (1975) [17] dẫn tài liệu của Swright chia các gen ảnh hưởng đến sinh trưởng của động vật.
Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định. Các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường được như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng. Tuy nhiên, có những tính trạng số lượng mà giá trị của chúng có được bằng cách đếm như số trứng đẻ ra/lứa/năm. Đó là tính trạng số lượng đặc biệt.
Sinh trưởng của gia cầm còn phụ thuộc vào loài, giống, tính biệt và cá thể. Jaap và Moris (1973) [35] đã phát hiện ra những sai khác trong cùng một giống về cường độ sinh trưởng. * Ảnh hưởng của thời tiết, mùa vụ Nhiệt độ, ẩm độ, độ thông thoáng chuồng nuôi đều có ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống của gia cầm. Khi nhiệt độ xuống quá thấp, cơ thể gia cầm không điều tiết được, thân nhiệt thay đổi làm rối loạn các hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể, bệnh tật phát sinh làm cơ thể yếu ớt và có thể chết.
Nhiệt độ thấp cực kỳ nguy hiểm đối với gia cầm non. Nhiệt độ cao sẽ làm cho gia cầm bị chết vì nóng. 8 * Ảnh hưởng của kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng Chế độ nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của gia cầm. Nếu khẩu phần ăn không đủ và cân đối dinh dưỡng sẽ làm gia cầm gầy yếu, sức kháng bệnh tật kém, tỷ lệ nuôi sống thấp.
Khi trong khẩu phần thiếu các vitamin và các nguyên tố vi lượng sẽ làm cho quá trình chuyển hóa của cơ thể không bình thường, các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa thay đổi theo chiều hướng không tốt cho sức khỏe, từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống của gia cầm. * Ảnh hưởng của tính biệt Tính biệt cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới khối lượng cơ thể, gà trống nặng cân hơn gà mái từ 24 - 32%. Những sai khác này cũng được biểu hiện về cường độ sinh trưởng, sự quy định không phải do hormone sinh học mà do các gen liên kết giới tính. Sự sai khác về mặt sinh trưởng còn thể hiện rõ hơn đối với các dòng phát triển nhanh so với các dòng phát triển chậm (Chambers, J.