Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA GIỐNG BÒ BRAHMAN VÀ RED ANGUS 1. Nguồn gốc và đặc điểm của giống bò Brahman Brahman là giống bò có u thuộc loài Bos indicus. Bò Brahman nổi tiếng là giống bò thịt nhiệt đới, được nuôi rộng rãi ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Giống Brahman được chọn tạo thành ở Hoa Kỳ vào đầu những năm 1900 từ các các giống bò Zêbu: Kankrej, Ongole, Gir, Krishna valley, Hariana và Bhagnari của tiểu lục địa ấn Độ được nhập vào Mỹ (Đinh Văn Cải, 2007). Bò Brahman có ngoại hình chắc khỏe, tầm vóc lớn hơn so với các giống bò Zêbu khác; hệ cơ bắp phát triển, có u cao, yếm thõng, da mềm, thịt săn và tai to dài cụp xuống. Bò có màu lông trắng xám hoặc đỏ. Tốc độ sinh trưởng nhanh, chịu đựng rất tốt điều kiện nhiệt đới nóng ẩm, kháng bệnh tốt, chuyển hoá tốt thức ăn có hàm lượng xơ cao.
Brahman là giống chủ lực để lai tạo với các giống bò thịt cao sản ôn đới tạo ra nhiều giống bò thịt nhiệt đới năng suất cao như Droughtmaster, Braford, Brangus. (Lê Quang Nghiệp và cs. Khối lượng trưởng thành ở bò đực 800 – 1.100 kg, ở bò cái 450 – 650 kg, tỷ lệ thịt xẻ 53 – 58% (Lê Văn Thông và cs. Brahman là giống bò thịt phù hợp nhất ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới bởi khả năng chịu nhiệt, sức đề kháng bệnh tật và kháng côn trùng, tuổi thọ, khả năng chăn thả, khả năng sinh bê dễ dàng, khả năng làm mẹ và nuôi con tốt (Antonio và cs., 2006) Theo Jasmine Dillon và David Riley (2012), Brahman là giống bò phổ biến trong ngành chăn nuôi bò thịt của Hoa Kỳ; có ưu điểm: khả năng 5 chịu nhiệt, thích hợp với vùng khí hậu cận nhiệt đới, khả năng kháng ký sinh trùng, khả năng sinh sản tốt.
Trước đây ở Việt Nam, bò Brahman được nhập khẩu chủ yếu từ các nước CuBa và Australia. Qua nhiều thế hệ, bò Brahman đã thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa của Việt Nam cũng như điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và phù hợp với thị hiếu và nhu cầu của người chăn nuôi cả nước. Bò Brahman có vai trò quan trọng trong công tác cải tạo, nâng cao tầm vóc bò thịt Việt Nam thông qua kỹ thuật thụ tinh nhân tạo. Năm 2015 bò đực giống Brahman hậu bị từ Hoa kỳ (nơi tạo ra giống bò này) lần đầu tiên được nhập khẩu về Việt Nam.
Đây sẽ là nguồn gen quý góp phần quan trọng trong công tác cải tạo nâng cao tầm vóc và phát triển bò lai hướng thịt của Việt Nam. Nguồn gốc và đặc điểm của giống bò Red Angus Red Angus là giống bò không có u thuộc loài Bos taurus, là giống bò thịt nổi tiếng trên thế giới, có nguồn gốc từ vùng cao nguyên phía bắc Scotland từ thế kỷ thứ VIII. Bò có màu đỏ sẫm, không có sừng, có đặc trưng của giống bò thịt cao sản: chân thấp, thân hình vạm vỡ, xương thanh và nhỏ, mông đùi phát triển, cơ bắp nổi rõ, sinh trưởng nhanh. Khối lượng trưởng thành ở bò đực 800 – 1.000 kg, bò cái 550 – 700 kg, tỷ lệ thịt xẻ cao đạt 60 – 65% (Lê Văn Thông và cs.
Thịt Bò Red Angus chủ yếu được biết đến như một loại thực phẩm tươi giá trị cao và là loại thịt bò chất lượng cao. Bò có chất lượng thịt tốt, có vân mỡ trắng xen kẽ trong những thớ thịt giúp thịt mềm và có vị béo rất dễ chịu. Thịt bò Red Angus có màu đỏ tươi sáng. Ngoài ra, bò Red Angus có khả năng sinh sản cao và trưởng thành sớm, dễ nuôi (Wikipedia, 2018).
Lịch sử hình thành, chọn lọc và chăn nuôi bò Red Angus tập trung và quy mô bắt đầu từ năm 1954 tại Hoa Kỳ. Khi thành lập Hiệp hội Red 6 Angus Hoa Kỳ (RAAA), khởi đầu chỉ với 7 trang trại chăn nuôi. Chính từ đây, giống bò Red Angus được chọn lọc, chăn nuôi, phát triển và xuất đi các nước. Năm 1970, Hiệp hội Red Angus Australia được thành lập, rồi đến Canada, cho đến nay bò Red Angus đã được chăn nuôi phổ biến và trở lên nổi tiếng trên thế giới vì có năng suất và chất lượng thịt cao (Red Angus Association of America, 2018).
Bò đực giống Red Angus mới chỉ được nhập khẩu về Việt nam từ Australia năm 2007, với số lượng chỉ có 04 bò đực về nuôi tại Moncada để sản xuất tinh đông lạnh; cho đến năm 2015 nhập thêm 09 bò đực giống nữa. Bò đực giống Red Angus có vai trò quan trọng trong công tác phát triển bò lai hướng thịt tại Việt Nam thông qua kỹ thuật TTNT. KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA BÒ ĐỰC GIỐNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG 1. Khả năng sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể để gia súc tăng về kích thước và khối lượng.
Sự thay đổi kích thước và khối lượng thể hiện ở sự thay đổi về chiều cao, chiều dài, chiều rộng và chiều sâu của cơ thể. Sinh trưởng là tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài. Do có sự tương tác giữa kiểu gen và ngoại cảnh mà sinh trưởng mang tính quy luật, đảm bảo cho cơ thể phát triển đạt tỷ lệ hài hoà và cân đối (Trần Đình Miên và cs. Quá trình phát triển của cơ thể từ bào thai đến cơ thể trưởng thành rồi già cỗi đều tuân theo những quy luật tự nhiên của sinh vật.
Nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu quy luật nhằm mục đính tác động vào từng giai đoạn phát triển của cơ thể, tạo điều kiện tăng năng suất sản phẩm vật nuôi (Nguyễn Hải Quân và cs. Quá trình phát triển của cơ thể gia súc tuân theo các quy luật sinh trưởng theo giai đoạn, quy luật sinh trưởng 7 không đồng đều và quy luật tính chu kỳ. * Quy luật sinh trưởng theo giai đoạn Quá trình sinh trưởng phát triển của gia súc phải trải qua một số giai đoạn, mỗi giai đoạn đòi hỏi điều kiện sống nhất định và có đặc điểm riêng. Giai đoạn phát triển trong cơ thể mẹ Giai đoạn này được bắt đầu từ lúc trứng được thụ tinh đến khi con vật đẻ ra ngoài.
Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) quá trình phát triển của bào thai bò diễn ra trong khoảng 280 ngày và được chia ra các thời kỳ cơ bản như sau: - Thời kỳ phôi (ngày 1- 34), trong giai đoạn này diễn ra các quá trình phức tạp biệt hoá các mô bào kèm theo việc hình thành các hệ thống và cơ quan chính. Trong thời kỳ này phôi phát triển mạnh, khối lượng của nó tăng khoảng 600 lần. - Thời kỳ tiền thai (ngày 35- 60), cơ quan nội tạng, các mô, tổ chức thần kinh, sụn, tuyến sữa, cơ quan sinh dục và đặc trưng của giống bắt đầu hình thành. Như vậy kể cả thời kỳ phôi, sau 60 ngày toàn bộ các cơ quan đã được hình thành và phát triển.
Hợp tử bình quân nặng 3 microgam, sau 60 ngày nặng 8 - 15g, tức là đã tăng 3 - 5 triệu lần. - Thời kỳ bào thai (ngày 61-đẻ), trong giai đoạn này chủ yếu là quá trình sinh trưởng. Cường độ sinh trưởng so với giai đoạn trước có giảm đi nhiều, nhưng khối lượng tuyệt đối tăng rất nhanh, nhất là từ tháng thứ 7 đến khi đẻ. Giai đoạn phát triển ngoài cơ thể mẹ Bắt đầu từ khi con vật được sinh ra cho đến khi về già và chết, được chia làm 4 thời kỳ.
- Thời kỳ bú sữa: Bắt đầu từ khi con vật được sinh ra cho đến khi thôi bú sữa. Ở những vật nuôi khác nhau thì thời gian này cũng khác nhau, nó phụ thuộc vào các yếu tố: di truyền, nuôi dưỡng, chăm sóc và tập quán 8 của người chăn nuôi (Nguyễn Đức Hưng và cs. Trong giai đoạn này bê sinh trưởng rất nhanh. Lúc đầu cơ năng tiêu hoá chủ yếu là dạ múi khế.
Về sau cùng với sự tiếp nhận thức ăn thực vật tăng lên dạ cỏ phát triển nhanh chóng. Sữa là thức ăn chính của bê và được thay thế dần bằng các loại thức ăn thực vật. Đến cuối thời kỳ này thức ăn thực vật chiếm chủ yếu trong khẩu phần (Nguyễn Xuân Trạch, 2003). - Thời kỳ thành thục (thời kỳ phát triển sinh dục): Kể từ khi cai sữa cho đến khi con vật có biểu hiện về tính dục.
Thời gian thành thục sinh dục phụ thuộc vào đặc điểm của giống, khí hậu và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Trong thời kỳ này gia súc có tốc độ sinh trưởng nhanh. Tuy các bộ phận sinh dục đã hình thành từ thời kỳ bào thai, nhưng lúc đó buồng trứng và dịch hoàn chưa hoạt động, phải đến thời kỳ này các bộ phận sinh dục mới bắt đầu hoạt động, lúc này có sự phân biệt về tính đực cái, con cái có phản xạ kiếm con đực, con đực có ngoại hình thay đổi: thân thể nở nang, tính tình hung hăng, con cái ôn hoà (Nguyễn Hải Quân và cs. - Thời kỳ trưởng thành: Từ khi con vật có biểu hiện tính dục cho đến khi các cơ quan sinh dục và các chức năng sinh lý khác hoạt động hoàn chỉnh, sinh trưởng phát dục hầu như ổn định, cơ thể ít tăng sinh.
Trong thời kỳ này con vật thành thục về thể vóc (Nguyễn Đức Hưng và cs. - Thời kỳ về già: Kể từ khi sức khỏe, sức sản xuất của con vật giảm dần, khả năng sinh sản giảm và dần mất hẳn. Thời kỳ này trao đổi chất kém, dị hóa mạnh hơn đồng hóa, hiệu quả sử dụng thức ăn thấp. Vì vậy, trong thực tiễn chăn nuôi cần xác định đúng thời điểm giảm sút các chức năng của cơ thể và có kế hoạch thay thế, loại thải vật nuôi (Nguyễn Đức Hưng và cs.
* Quy luật sinh trưởng và phát triển không đồng đều Điểm nổi bật nhất trong sự phát triển của cơ thể gia súc là sự sinh trưởng và phát dục không đồng đều. Đặc điểm đó thường thể hiện ở sự thay 9 đổi rõ rệt về tốc độ sinh trưởng và cường độ sinh trưởng của cơ thể tuỳ theo tuổi. Có bộ phận ở thời kỳ này thì phát triển nhanh ở thời kỳ khác lại phát triển chậm (Nguyễn Hải Quân và cs. - Không đồng đều về tăng khối lượng: Lúc còn non, con vật tăng trọng chậm, sau đó tăng trọng nhanh hơn, đến thời kỳ trưởng thành tăng trọng chậm lại rồi dần dần ổn định, cuối cùng không tăng trọng, thậm chí giảm khối lượng do cơ thể không tăng sinh mà tế bào chết đi.
Hệ số sinh trưởng của thời kỳ bào thai bao giờ cũng cao hơn so với giai đoạn ngoài thai.