Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn mười năm qua, khu vực Tây Nguyên ghi nhận làn sóng di cư tự do khổng lồ với hơn 50.000 hộ dân, tương đương khoảng 220.000 nhân khẩu. Tại xã Ea Kiết, huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk, tình trạng 131 hộ dân tộc H'Mông với 670 nhân khẩu xâm nhập vào các tiểu khu 540, 544 và 547 thuộc Công ty Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm đã làm suy thoái 385 ha rừng tự nhiên, bình quân mỗi hộ phá hơn 2,9 ha để lấy đất canh tác. Nhằm bảo tồn tài nguyên rừng và ổn định an ninh trật tự, năm 2009 Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phê duyệt dự án định canh định cư buôn H'Mông với tổng mức đầu tư 13,5 tỷ đồng, thực tế đã giải ngân 13.157,86 triệu đồng, đạt 97,47% kế hoạch vốn.

Dù các hạng mục hạ tầng kỹ thuật đã cơ bản hoàn thiện, sau hai năm triển khai chỉ có 51 hộ dân chuyển ra khu tập trung, khiến một dự án hàng chục tỷ đồng đứng trước nguy cơ thất bại. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm rõ nguyên nhân sâu xa cản trở quyết định chuyển đổi nơi cư trú của người dân dưới góc nhìn sinh kế. Mục tiêu cụ thể của luận văn là phân tích, so sánh toàn diện 5 nguồn vốn sinh kế giữa nhóm hộ cư trú trong rừng và nhóm hộ trong khu định canh định cư, từ đó xác định các rào cản cốt lõi và đề xuất giải pháp chính sách khả thi.

Nghiên cứu được thực hiện tại buôn H'Mông, xã Ea Kiết trong giai đoạn 2009 đến năm 2013. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng tỷ lệ di dời đạt 100% quy mô 131 hộ, bảo vệ nghiêm ngặt 385 ha diện tích lâm nghiệp và tối ưu hóa hiệu quả đồng vốn ngân sách Nhà nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung phân tích sinh kế bền vững của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh ban hành năm 1999 làm nền tảng lý thuyết chủ đạo. Lý thuyết này tiếp cận sinh kế thông qua sự tương tác phức hợp giữa 5 nguồn vốn cơ bản: vốn con người (trình độ học vấn, sức khỏe, kỹ năng lao động), vốn tự nhiên (đất sản xuất, nguồn nước, tài nguyên rừng), vốn tài chính (tiền mặt, tích lũy tiết kiệm, khả năng tiếp cận tín dụng), vốn vật chất (nhà ở, công cụ sản xuất, hạ tầng kỹ thuật), và vốn xã hội (mối quan hệ cộng đồng, mạng lưới dòng tộc, sự tham gia đoàn thể).

Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết sinh kế nông thôn của Robert Chambers và Gordon Conway năm 1992 nhằm làm rõ khả năng chống chịu của hộ dân trước các cú sốc tự nhiên, cùng lý thuyết đa dạng hóa sinh kế của Frank Ellis năm 2000 để đánh giá các quyết định phân bổ nguồn lực.

Khái niệm định canh định cư được chuẩn hóa theo Quyết định số 140/1999/QĐ-BNN-ĐCĐC của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kết hợp với các cơ sở pháp lý hiện hành như Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg, Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg, Quyết định số 1342/QĐ-TTg và Quyết định số 1776/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về bố trí dân cư vùng di cư tự do và đặc biệt khó khăn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp phong phú kết hợp dữ liệu thứ cấp xác thực từ Ủy ban nhân dân huyện Cư M'gar, xã Ea Kiết và Công ty Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn sâu các nhà quản lý chuyên môn, già làng, trưởng buôn, thảo luận nhóm tập trung và khảo sát trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 36 hộ gia đình, trong đó có 16 hộ sống tại khu định canh định cư và 20 hộ đang cư trú bất hợp pháp trong rừng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có mục đích được thực hiện qua 3 bước chặt chẽ: chính quyền buôn sơ loại danh sách, già làng và đại diện cộng đồng kiểm định thông tin, và chọn mẫu chi tiết theo tiêu chí phân loại hộ khá (sở hữu từ 1,5 ha đất trở lên, có nhà kiên cố) và hộ khó khăn (dưới 1,5 ha đất, nhà tạm bợ).

Phương pháp phân tích kết hợp thống kê mô tả, so sánh định tính và kiểm định phương sai ANOVA ở mức ý nghĩa 95%. Lý do lựa chọn kiểm định ANOVA là nhằm chứng minh tính xác thực và sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về số lượng lao động, diện tích đất, dư nợ vay vốn, thu nhập và chi tiêu giữa các nhóm hộ. Toàn bộ tiến trình thu thập và xử lý số liệu được tác giả hoàn tất trong mốc thời gian tháng 5 năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực địa chỉ ra sự phân hóa sâu sắc về tài sản sinh kế giữa nhóm hộ cư trú trong rừng và nhóm hộ trong khu định canh định cư.

Thứ nhất, về vốn tự nhiên và thu nhập, hộ cư trú trong rừng sở hữu diện tích đất canh tác bình quân 2,83 ha/hộ, trong đó nhóm hộ khá đạt tới 3,9 ha/hộ với 90% diện tích có nguồn gốc từ việc khai hoang lấn chiếm rừng. Ngược lại, nhóm hộ tại khu định canh định cư chỉ có diện tích đất bình quân 1,69 ha/hộ, nhóm khó khăn chỉ đạt 1,29 ha/hộ. Chênh lệch đất đai trực tiếp dẫn tới khoảng cách thu nhập rất lớn: hộ khá trong rừng đạt mức thu nhập bình quân 77,85 triệu đồng/năm (96,1% đến từ trồng trọt hoa màu và cây công nghiệp), cao hơn gấp đôi so với mức 37,99 triệu đồng/năm của hộ khá tại khu định cư.

Thứ hai, về vốn vật chất và tài chính, 70% hộ trong rừng sở hữu nhà ở kiên cố và bán kiên cố, 90% hộ khá có tích lũy tiết kiệm và sở hữu các thiết bị sản xuất giá trị cao như máy bơm tưới (50%), máy tuốt bắp (20%), máy cày (20%). Trái lại, tại khu định canh định cư, 43,75% hộ vẫn ở nhà tạm, nhóm khó khăn chỉ có tỷ lệ tiết kiệm 44,4% và có tới 56,25% hộ phải phụ thuộc vào cưa lốc để khai thác gỗ trái phép kiếm sống (chiếm 25,8% cơ cấu thu nhập của nhóm khó khăn).

Thứ ba, về chất lượng cơ sở hạ tầng khu quy hoạch, 100% hộ dân thuộc nhóm khó khăn và 71% hộ nhóm khá đánh giá khu đất ở 600 m2 được cấp là rất kém do cốt nền thấp, trũng ngập vào mùa mưa và thiếu rãnh thoát nước. Đồng thời, giếng khoan tập trung công suất 86 m3/ngày đêm cung cấp nguồn nước nhiễm đá vôi nặng (nước cứng kết tủa trắng khi đun sôi), khiến 100% hộ khá và 67% hộ khó khăn đánh giá hạng mục nước sạch ở mức rất kém và không thể sử dụng để ăn uống.

Thứ tư, về vốn xã hội và giáo dục, 100% hộ trong rừng duy trì sinh hoạt khép kín theo dòng tộc và tôn giáo, không tham gia tổ chức chính quyền buôn, tỷ lệ mù chữ ở nhóm khó khăn lên tới 26,75%. Ngược lại, hộ tại khu định cư tích cực tham gia các tổ chức đoàn thể, 18 hộ đã được cấp hộ khẩu chính thức, tạo điều kiện cho con em học lên trung học phổ thông (đạt tỷ lệ 3,65%) và tiếp cận vốn vay Ngân hàng Chính sách xã hội với mức bình quân 11,5 triệu đồng/hộ khá.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến các hộ dân từ chối chuyển ra khu định canh định cư là sự sụt giảm tài sản sinh kế thực tế. Việc di chuyển ra nơi ở mới khiến người dân bị thu hẹp quỹ đất canh tác, phát sinh thêm gánh nặng chi phí mua nước đóng bình và chi phí xăng xe đi lại trên quãng đường rừng hiểm trở để chăm sóc nương rẫy cũ. Bên cạnh đó, chính sách chấp nhận hiện trạng và cấp chứng nhận quyền sử dụng đất trên diện tích đất rừng lấn chiếm vô tình tạo động lực kinh tế giữ chân các hộ dân tiếp tục cư trú sâu trong lõi rừng.

Dữ liệu khảo sát được mô hình hóa trực quan qua bảng ma trận đánh giá 5 mức độ hài lòng về 6 hạng mục cơ sở hạ tầng, cùng biểu đồ so sánh cơ cấu nguồn thu nhập và nguồn vốn vay giữa 4 nhóm hộ. Các minh họa này chứng minh rõ nét các nút thắt kỹ thuật của dự án.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các kết luận của Frank Ellis năm 2000 và Báo cáo đánh giá dự án phát triển lâm nghiệp Tây Nguyên (FLITCH) của Ngân hàng Phát triển Châu Á năm 2012: một chương trình tái định cư chỉ có thể thành công khi bảo toàn hoặc gia tăng nguồn vốn tự nhiên và nguồn vốn tài chính cho người dân, thay vì chỉ tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng cứng đơn lẻ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk:

  • Lập tức dừng chủ trương phê duyệt dự án xây dựng đường giao thông vào khu sản xuất sâu trong rừng với kinh phí dự kiến 10.711 triệu đồng, nhằm triệt tiêu nguy cơ lâm tặc lợi dụng hạ tầng giao thông để khai thác gỗ trái phép.
  • Điều chỉnh quy hoạch, chuyển đổi mục đích sử dụng khoảng 15 đến 20 ha đất rừng nghèo kiệt đã thu hồi từ Công ty Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm nằm sát khu định canh định cư để cấp đất sản xuất tập trung cho bà con trước quý 4 năm 2014.
  • Bố trí nguồn vốn bổ sung nâng mức hỗ trợ di dời từ 5 triệu đồng lên 8 triệu đồng/hộ, đồng thời cấp ngân sách hoàn thiện việc san nền chống ngập và xây dựng mương thoát nước cho khu dân cư.

Thứ hai, đối với Ủy ban nhân dân huyện Cư M'gar:

  • Thành lập đoàn kiểm tra liên ngành xét nghiệm công khai mẫu nước sinh hoạt từ trạm cấp 86 m3/ngày đêm, đầu tư hệ thống lọc khử cứng nguồn nước và hỗ trợ kỹ thuật giảm chi phí kéo điện lưới cho 31,2% số hộ chưa có điện trong vòng 6 tháng.
  • Đẩy nhanh tiến độ cấp sổ hộ khẩu cho 100% số hộ tại khu tập trung, tạo cơ sở pháp lý mở rộng hạn mức cho vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội lên mức 15 đến 20 triệu đồng/hộ phục vụ tái sản xuất.
  • Kiên quyết áp dụng biện pháp hành chính cưỡng chế di dời đối với các hộ cố tình bám trụ khai phá rừng trái phép sau khi đã được hỗ trợ các điều kiện sinh kế tối thiểu.

Thứ ba, đối với Ủy ban nhân dân xã Ea Kiết:

  • Củng cố năng lực lãnh đạo của ban tự quản buôn H'Mông, lồng ghép mạng lưới dòng tộc và người có uy tín vào công tác quản lý địa bàn.
  • Phối hợp với trạm khuyến nông tổ chức định kỳ 4 đợt tập huấn kỹ thuật/năm về thâm canh cây cà phê, ngô lai và chăn nuôi bò thịt có kiểm soát dịch bệnh nhằm thay thế nguồn thu 25,8% từ phá rừng.
  • Tăng cường cung cấp thông tin dự báo khí tượng thủy văn mùa vụ và đẩy mạnh tuần tra liên ngành quản lý chặt chẽ 385 ha rừng phòng hộ đầu nguồn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Ban Dân tộc, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Tây Nguyên, Ủy ban nhân dân các huyện miền núi có thể sử dụng luận văn làm cơ sở dữ liệu thực tiễn để rà soát, điều chỉnh các dự án tái định cư dân di cư tự do, tránh lãng phí hàng chục tỷ đồng ngân sách.
  • Học viên, nghiên cứu sinh ngành Kinh tế phát triển và Chính sách công: Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình ứng dụng khung phân tích sinh kế bền vững DFID kết hợp phương pháp định lượng kiểm định ANOVA trong nghiên cứu cộng đồng dân tộc thiểu số.
  • Ban quản lý rừng phòng hộ và doanh nghiệp lâm nghiệp: Vận dụng các phát hiện của đề tài để thiết lập quy chế phối hợp quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng, giải quyết dứt điểm các tranh chấp đất đai xen kẽ lâm trường.
  • Các tổ chức phát triển quốc tế và tổ chức phi chính phủ: Nguồn tài liệu giá trị cho các chuyên gia dự án thuộc Ngân hàng Thế giới hoặc Ngân hàng Phát triển Châu Á khi thiết kế các chương trình hỗ trợ nước sạch nông thôn, sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu tại vùng đồng bào H'Mông.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khung phân tích sinh kế bền vững DFID được vận dụng như thế nào trong luận văn này? Khung DFID được sử dụng để đánh giá toàn diện 5 nguồn vốn (con người, tự nhiên, tài chính, vật chất, xã hội) của 36 hộ dân khảo sát. Phương pháp này giúp phân tích tác động qua lại giữa bối cảnh dễ bị tổn thương, chính sách thể chế và chiến lược sinh kế, giải thích vì sao nhóm hộ trong rừng đạt thu nhập 77,85 triệu đồng/năm không muốn di dời.

  2. Đâu là nguyên nhân chính khiến dự án 13,5 tỷ đồng tại buôn H'Mông chỉ thu hút được 51 hộ dân? Nguyên nhân chủ yếu do hạ tầng kỹ thuật còn nhiều bất cập: 100% hộ khó khăn phản ánh đất ở bị trũng ngập, hệ thống cấp nước 86 m3/ngày đêm nhiễm đá vôi nặng. Ngoài ra, diện tích đất sản xuất tại nơi ở mới bị sụt giảm chỉ còn 1,69 ha/hộ và nương rẫy cũ nằm quá xa làm tăng chi phí đi lại.

  3. Chính sách công nhận hiện trạng đất canh tác trong rừng tạo ra hệ lụy gì? Chính sách hợp thức hóa diện tích đất lấn chiếm tạo tâm lý yên tâm bám trụ giữa rừng, duy trì nguy cơ xâm hại 385 ha rừng lâm trường. Hơn nữa, việc đề xuất chi 10.711 triệu đồng làm đường vào rẫy sản xuất vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho lâm tặc đẩy mạnh khai thác gỗ tự nhiên.

  4. Diện tích sở hữu đất đai tác động ra sao đến việc lựa chọn chiến lược sinh kế của hộ dân? Hộ khá trong rừng sở hữu 3,9 ha đất nên tập trung chuyên canh cây hoa màu và cà phê, đạt 96,1% thu nhập từ trồng trọt. Ngược lại, hộ khó khăn tại khu định cư chỉ có 1,29 ha đất, thiếu vốn sản xuất nên buộc phải chọn chiến lược đi làm thuê và dùng cưa lốc phá rừng khai thác gỗ (chiếm 25,8% tổng thu nhập).

  5. Giải pháp cấp bách nào cần thực hiện để khắc phục tình trạng thiếu nước sạch tại khu tái định cư? Ủy ban nhân dân huyện Cư M'gar cần khẩn trương thành lập đoàn kiểm định công khai chỉ số chất lượng nguồn nước, lắp đặt hệ thống lọc xử lý nước cứng cho trạm bơm công suất 86 m3/ngày đêm, đồng thời hướng dẫn bà con biện pháp lắng lọc thủ công an toàn nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện thực trạng phân hóa 5 nguồn vốn sinh kế giữa 20 hộ sống trong rừng và 16 hộ tại khu định canh định cư buôn H'Mông.
  • Nhận diện chính xác các rào cản hạ tầng cốt lõi khiến dự án 13,5 tỷ đồng chưa đạt mục tiêu gồm đất ở ngập úng, nước máy nhiễm vôi và nương rẫy cách xa nơi ở.
  • Chứng minh bằng kiểm định định lượng ANOVA ở độ tin cậy 95% về sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê đối với diện tích đất (2,83 ha so với 1,69 ha), thu nhập và dư nợ vay vốn.
  • Khẳng định tính bất cập của chính sách hợp thức hóa đất khai hoang và đề xuất hủy dự án mở đường vào vùng sản xuất trị giá 10.711 triệu đồng để bảo vệ 385 ha rừng phòng hộ.
  • Hệ thống hóa các khuyến nghị phân cấp cụ thể cho cấp tỉnh, huyện, xã nhằm điều chỉnh quỹ đất sản xuất sát khu định cư và hoàn thiện cấp hộ khẩu trong 12 tháng tới.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp khung thực chứng khoa học sắc bén về mối quan hệ giữa chính sách can thiệp công và hành vi sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số di cư tự do tại Tây Nguyên. Trong giai đoạn 2013-2015, chính quyền địa phương cần ưu tiên xử lý dứt điểm vấn đề nước sạch và san nền chống ngập để ổn định cuộc sống cho 100% số hộ dân. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý phát triển nông thôn hãy tham khảo chi tiết toàn văn tài liệu để rút ra những bài học thực tiễn giá trị cho công tác hoạch định chính sách an sinh bền vững.