Tổng quan nghiên cứu

Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và mạng Internet băng thông rộng đã định hình lại hoàn toàn thói quen tiếp nhận thông tin của công chúng. Tại Việt Nam, doanh thu ngành công nghiệp nội dung số năm 2016 đạt khoảng 1,5 tỷ USD, trong khi người dùng Internet dành trung bình 2,5 giờ mỗi ngày để xem video trực tuyến. Tỷ lệ giới trẻ sử dụng điện thoại thông minh xem video đạt 71%, tăng 150% so với giai đoạn trước đó. Đứng trước sự cạnh tranh gay gắt từ các nền tảng mạng xã hội và dịch vụ xuyên biên giới, các đài truyền hình truyền thống buộc phải bước vào cuộc cách mạng chuyển đổi số để duy trì sự tồn tại và phát triển.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào hoạt động sản xuất và phân phối nội dung số tại Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC dưới lăng kính kinh tế truyền thông. Trong một thời gian dài, nhiều cơ quan truyền thông nhầm lẫn giữa việc sản xuất nội dung số chuyên biệt với việc đơn thuần đưa các sản phẩm truyền hình truyền thống sẵn có lên không gian mạng. Điều này dẫn đến sự thiếu hụt về mô hình kinh doanh bền vững và hiệu quả tài chính chưa tương xứng với tiềm năng của hệ thống 15 kênh truyền hình cùng nguồn lực gần 1.000 cán bộ nhân viên.

Mục tiêu nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế báo chí truyền thông, phân tích toàn diện thực trạng quy trình sản xuất, phân phối và các nguồn thu từ hạ tầng số của Đài VTC trong giai đoạn từ tháng 4/2018 đến năm 2019. Luận văn đặt phạm vi khảo sát tại Đài VTC và đối sánh với các đơn vị như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp các đơn vị truyền hình xây dựng chiến lược phát triển ứng dụng OTT đa phương tiện, tối ưu hóa nguồn thu quảng cáo và mở rộng hệ sinh thái số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế truyền thông và lý thuyết hội tụ truyền thông trong kỷ nguyên số. Kinh tế truyền thông được định nghĩa là tổng hòa các mối quan hệ xã hội trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng các sản phẩm báo chí trên cơ chế thị trường. Thông tin báo chí được tiếp cận như một loại hàng hóa đặc biệt, chịu sự chi phối của quy luật cung cầu, giá cả và năng lực cạnh tranh.

Hệ thống lý thuyết bổ trợ bao gồm các mô hình kinh doanh dịch vụ phân phối video theo yêu cầu gồm ba hình thức căn bản:

  • Dịch vụ đăng ký thuê bao trả phí định kỳ (SVOD) mang đặc tính dễ tiếp cận nhưng đòi hỏi nỗ lực giữ chân khách hàng liên tục.
  • Dịch vụ chi trả theo từng nội dung riêng biệt (TVOD) áp dụng cho các sự kiện trực tiếp hoặc phim chiếu rạp.
  • Dịch vụ miễn phí tích hợp quảng cáo (AVOD) tạo nguồn thu dựa trên lượng hiển thị và dữ liệu hành vi người dùng.

Khung pháp lý được tác giả phân tích chặt chẽ dựa trên Luật Công nghệ thông tin, Nghị định số 71/2007/NĐ-CP hướng dẫn về công nghiệp công nghệ thông tin, Nghị định số 118/2015/NĐ-CP và Quyết định số 392/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển công nghiệp công nghệ thông tin đến năm 2020, tầm nhìn 2025. Thị trường nội dung số Việt Nam ghi nhận hơn 4.500 doanh nghiệp với trên 70.000 lao động đang hoạt động, đạt tốc độ tăng trưởng hơn 20%/năm, tạo tiền đề thể chế vững chắc cho việc thương mại hóa sản phẩm truyền hình trên không gian mạng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của luận điểm:

  • Phương pháp phân tích tài liệu và nội dung: Tác giả tiến hành thu thập, xử lý dữ liệu báo cáo nội bộ của Đài VTC, số liệu thống kê từ 5 Fanpage Facebook chính thức, chỉ số người xem từ 3 kênh YouTube lớn và lưu lượng truy cập chuyên trang video báo điện tử.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành phát 100 phiếu hỏi khảo sát nhu cầu, thói quen tiếp nhận truyền hình số của khán giả tại khu vực Hà Nội. Cỡ mẫu 100 được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện nhằm thu thập nhanh chóng dữ liệu thực chứng từ nhóm công chúng đô thị có mức độ tiếp cận công nghệ cao.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp các cán bộ lãnh đạo Đài VTC, lãnh đạo Trung tâm Nội dung số và Trung tâm Kỹ thuật để làm rõ định hướng chiến lược, quy trình tác nghiệp và những rào cản tài chính.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: Đặt dữ liệu sản xuất và kinh doanh của VTC cạnh các đài truyền hình lớn như VTV, HTV để nhận diện điểm mạnh, điểm nghẽn và cơ hội phát triển.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, giai đoạn trước năm 2018, hoạt động số hóa của Đài VTC chủ yếu dừng lại ở việc phân phối lại nội dung truyền hình truyền thống lên mạng xã hội. Doanh thu từ hệ thống YouTube Network trong giai đoạn 2013-2015 ước đạt khoảng 7 tỷ đồng từ mạng quảng cáo tự động. Trong đó kênh VTCTube đóng góp lớn nhất với 5,3 tỷ đồng, chiếm 75,7% tổng nguồn thu. Riêng năm 2015, tổng doanh thu từ 3 kênh chủ lực VTCTube, VNOTV và VTC Thể thao đạt xấp xỉ 1,4 tỷ đồng, vừa đủ bù đắp chi phí vận hành cơ bản nhưng chưa tạo ra thặng dư kinh tế đáng kể.

Thứ hai, nguồn thu từ việc cấp quyền khai thác nội dung cho các nhà mạng viễn thông và đối tác OTT duy trì mức đóng góp ổn định. Năm 2015, doanh thu từ mảng này ước đạt 17,3 tỷ đồng, trong đó Viettel chiếm tỷ trọng 46% và VNPT chiếm 42%. Đến năm 2016, tổng doanh thu cấp quyền tăng nhẹ lên 17,8 tỷ đồng khi mở rộng hợp tác với các đơn vị phát sóng trực tuyến, khẳng định giá trị kinh tế của kho dữ liệu truyền hình phong phú.

Thứ ba, sự ra đời của ứng dụng đa phương tiện VTC Now vào tháng 4/2018 đánh dấu bước chuyển mình sang sản xuất nội dung số chuyên nghiệp. Nhờ sở hữu bản quyền phát sóng Đại hội Thể thao Châu Á ASIAD 2018, ứng dụng đã tạo bước tăng trưởng bùng nổ: chỉ sau 4 tháng 6 ngày ra mắt, VTC Now cán mốc 1 triệu lượt tải trên hai kho ứng dụng của Google và Apple vào tháng 8/2018. Lượng người dùng tăng vọt từ 150.000 lên hơn 1 triệu chỉ trong 1 tuần, với lưu lượng tải mới đạt hơn 100.000 lượt mỗi ngày. Trận bán kết giữa Olympic Việt Nam và Olympic Hàn Quốc ghi nhận lượng người xem đồng thời (CCU) đạt đỉnh 700.000 lượt, trong khi trận tứ kết với Olympic Syria đạt mức 400.000 CCU và thu hút 2 triệu người theo dõi.

Thứ tư, Đài VTC khẳng định uy tín quốc tế khi được Quỹ sáng tạo YouTube toàn cầu lựa chọn hỗ trợ tài chính vào tháng 11/2018, đứng cùng hàng ngũ với các hãng thông tấn lớn như Bloomberg, NBC News và The New York Times để đầu tư phát triển các bản tin thời sự nhanh chuyên biệt cho nền tảng trực tuyến.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được tổng hợp trực quan qua biểu đồ cơ cấu doanh thu phân phối nội dung và bảng theo dõi biến động người dùng theo sự kiện. Kết quả cho thấy mô hình kinh tế dựa trên quảng cáo truyền thống đang bộc lộ giới hạn trước sự phân tán của khán giả. Thành công vượt bậc về lượt tải ứng dụng VTC Now chứng minh vai trò quyết định của nội dung độc quyền có tính thời sự cao trong việc thu hút người dùng OTT.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra hạn chế lớn là thiếu cơ chế chuyển đổi tệp khán giả khổng lồ từ các nền tảng mạng xã hội về hệ sinh thái thuê bao trực tiếp của Đài. So với Đài Truyền hình Việt Nam sở hữu hạ tầng VTV Go đồng bộ hay Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long tận dụng hiệu quả các chương trình giải trí trên mạng xã hội, Đài VTC vẫn đối mặt với áp lực tự chủ tài chính, chi phí hạ tầng máy chủ lớn và tình trạng vi phạm bản quyền video trên không gian số.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở phân tích thực trạng và xu hướng phát triển kinh tế truyền thông, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Tái cơ cấu quy trình tòa soạn hội tụ theo định hướng số: Chuyển đổi mô hình làm việc từ sản xuất tuyến tính sang quy trình đa nền tảng, lấy Trung tâm Nội dung số làm đầu mối điều phối. Thiết lập mục tiêu nâng tỷ trọng nội dung sản xuất độc quyền cho môi trường trực tuyến lên mức 40% trong giai đoạn 2019-2021. Chủ thể thực hiện là Ban Lãnh đạo Đài VTC cùng các Trưởng Kênh, Trưởng phòng biên tập.

  2. Đa dạng hóa mô hình kinh doanh kết hợp linh hoạt AVOD, SVOD và TVOD: Xây dựng các gói nội dung chuyên đề chất lượng cao, các chương trình phân tích thể thao và bản tin đa phương tiện có thu phí vi mô. Đặt mục tiêu tăng trưởng nguồn thu phi quảng cáo truyền hình đạt mức 25%/năm từ năm 2020. Chủ thể chịu trách nhiệm là Trung tâm Quảng cáo và Khối Kinh doanh dịch vụ số.

  3. Nâng cấp hạ tầng công nghệ và tối ưu hóa giải pháp phân phối mạng biên: Tiếp tục hợp tác với các nhà cung cấp giải pháp điện toán đám mây và mạng phân phối nội dung hàng đầu để duy trì độ ổn định khi truyền phát trực tiếp các sự kiện có trên 500.000 người truy cập đồng thời. Mục tiêu phát triển ứng dụng VTC Now đạt 5 triệu tài khoản kích hoạt vào năm 2022. Chủ thể triển khai là Trung tâm Kỹ thuật truyền hình phối hợp các đối tác công nghệ.

  4. Đào tạo nâng cao năng lực tác nghiệp đa phương tiện và bảo vệ bản quyền: Tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng biên tập video ngắn, phân tích dữ liệu công chúng và tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho 100% đội ngũ phóng viên, biên tập viên trước quý IV/2020. Thiết lập hệ thống quét bản quyền tự động nhằm ngăn chặn hành vi khai thác trái phép sản phẩm của Đài. Chủ thể thực hiện là Phòng Tổ chức cán bộ và Trung tâm Bản quyền.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý và lãnh đạo các cơ quan truyền hình: Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn về việc tái cấu trúc tổ chức, chuyển đổi mô hình kinh tế từ phát sóng quảng bá sang cung cấp dịch vụ OTT, giúp tối ưu hóa chi phí sản xuất cho hệ thống hơn 15 kênh chương trình.

  2. Phóng viên, biên tập viên và nhà sản xuất nội dung số: Cung cấp phương pháp xây dựng kịch bản video tương tác, định dạng tin tức đa nền tảng và kỹ thuật tối ưu hóa nội dung nhằm thu hút lượng truy cập trên 3 triệu lượt xem mỗi tháng như chuyên trang video báo điện tử.

  3. Chuyên gia kinh doanh truyền thông và tiếp thị kỹ thuật số: Tài liệu mang đến cái nhìn sâu sắc về phương thức khai thác dòng tiền từ mạng quảng cáo tự động, thỏa thuận cấp quyền viễn thông với giá trị hàng chục tỷ đồng và mô hình liên kết tài trợ sự kiện.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Báo chí - Truyền thông: Nguồn tư liệu học thuật giá trị, kết hợp hài hòa giữa lý thuyết kinh tế báo chí với dữ liệu khảo sát 100 mẫu thực tế, phục vụ trực tiếp cho các đề tài nghiên cứu về chuyển đổi số truyền thông.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hoạt động sản xuất nội dung số tại Đài VTC có điểm gì khác biệt so với truyền hình truyền thống? Sản xuất nội dung số tại VTC không chỉ là việc biên tập lại các phóng sự truyền hình mà bao gồm việc sáng tạo các bản tin nhanh, talkshow trực tuyến và định dạng tương tác trực tiếp. Nội dung được tối ưu hóa cho màn hình điện thoại thông minh, phát hành qua ứng dụng OTT và mạng xã hội nhằm tiếp cận người dùng mọi lúc mọi nơi.

  2. Bản quyền các sự kiện thể thao lớn như ASIAD 2018 đóng vai trò thế nào đối với sự phát triển của VTC Now? Bản quyền thể thao đóng vai trò là đòn bẩy đột phá thu hút người dùng mới. Trong tuần lễ phát sóng ASIAD 2018, ứng dụng VTC Now đã tăng trưởng thần tốc từ 150.000 lên hơn 1 triệu lượt tải, ghi nhận lưu lượng kỷ lục 700.000 người xem đồng thời, tạo nền tảng khách hàng vững chắc cho hệ sinh thái số của Đài.

  3. Đài VTC khai thác những nguồn thu chủ yếu nào từ môi trường truyền thông số? Nguồn thu số của Đài VTC đến từ 4 kênh chính: doanh thu quảng cáo tự động trên YouTube và báo điện tử đạt hàng chục triệu đồng mỗi ngày, doanh thu cấp quyền phát sóng cho nhà mạng viễn thông đạt hơn 17 tỷ đồng mỗi năm, tài trợ chuyên đề và kinh doanh thiết bị đầu cuối thông minh.

  4. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện 100 phiếu hỏi trong luận văn mang lại giá trị gì cho nghiên cứu? Phương pháp chọn mẫu thuận tiện 100 công chúng tại Hà Nội giúp tác giả nhanh chóng nắm bắt các chỉ số hành vi, mức độ sẵn sàng chi trả cho nội dung truyền hình và nhu cầu trải nghiệm ứng dụng OTT của nhóm khán giả đô thị tiêu biểu, làm cơ sở thực chứng định hướng giải pháp kinh doanh.

  5. Việc tham gia Quỹ sáng tạo YouTube toàn cầu năm 2018 có ý nghĩa gì đối với Đài VTC? Khoản hỗ trợ từ YouTube giúp Đài VTC tăng cường nguồn lực tài chính và công nghệ để sản xuất các chương trình tin tức chính thống chất lượng cao, chuẩn hóa quy trình xuất bản số quốc tế và nâng cao vị thế của cơ quan báo chí Việt Nam trên thị trường truyền thông toàn cầu.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kinh tế truyền thông và mô hình kinh doanh sản phẩm video đa nền tảng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp số.
  • Phân tích chi tiết thực trạng chuyển dịch từ phân phối thụ động sang sản xuất chủ động của Đài VTC qua dấu mốc ra mắt ứng dụng VTC Now đạt 1 triệu lượt tải năm 2018.
  • Đánh giá khách quan bức tranh tài chính với các nguồn thu từ mạng quảng cáo tự động, hợp đồng đối tác viễn thông trên 17 tỷ đồng và hỗ trợ từ Quỹ sáng tạo YouTube.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao về quy trình tòa soạn, mô hình doanh thu hỗn hợp, hạ tầng công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
  • Đóng góp nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho công cuộc chuyển đổi số của hệ thống báo chí truyền hình Việt Nam giai đoạn 2020-2025.

Công cuộc chuyển đổi số truyền hình là yêu cầu cấp thiết đòi hỏi sự quyết liệt về cơ chế và đầu tư công nghệ đồng bộ. Các nhà nghiên cứu và đơn vị truyền thông quan tâm có thể tiếp tục mở rộng khảo sát các mô hình kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa trải nghiệm công chúng trong tương lai.