CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN CỦA KHÁCH HÀNG 1.1 Các khái niệm, đặc điểm về dịch vụ và dịch vụ Fiber VNN 1.1 Khái niệm dịch vụ Hiện tại, có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ: Theo quan điểm của Zeithaml and Bitner (2000) cho rằng dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc như cung cấp, hỗ trợ và tháo gỡ các khó khăn vướng mắc của khách hàng nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thõa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Philip Kotler and Kellers (2006) định nghĩa rằng: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. Tại Việt Nam của có các quan điểm về dịch vụ được đưa ra, tiêu biểu như: Nguyễn Văn Thanh (2008) đã đưa ra khái niệm rằng: Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh làm hài lòng cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn. Nguyễn Thị Mơ (2005) đã có quan điểm rằng: Dịch vụ là các hoạt động của con người được kết tinh thành các sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được.
Tóm lại, mỗi quan niệm về dịch vụ sẽ hướng doanh nghiệp đưa ra những chính sách khuyến mại, chăm sóc khách hàng tốt hơn và có những chiến lược cạnh tranh tối ưu hơn. Vì vậy ta có thể hiểu theo một cách nhìn tổng quan rằng dịch vụ là những hoạt động tạo ra các sản phẩm không tồn tại dưới dạng hình thái vật thể nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.2 Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có ba đặc tính bao gồm: tính vô hình, tính không đồng nhất (dị biệt) và tính không thể tách rời (Parasuraman et al. - Tính vô hình (Intangibility): Sản phẩm dịch vụ là sản phẩm mang tính vô hình, đặc điểm này làm cho khách hàng gặp nhiều khó khăn trong việc nhận biết và kiểm chứng chất lượng của dịch vụ. Vì vậy, Parasuraman, Valrie A.
Zeithaml and Leonard L. Berry (1985) đã bình luận rằng tính vô hình có nghĩa là “Hầu hết các dịch vụ không thể đo đếm, thử nghiệm và chứng nhận trước khi cung cấp để đảm bảo chất lượng dịch vụ”. - Tính dị biệt (Heterogeneity): Sản phẩm dịch vụ thường không tiêu chuẩn hóa được bởi quá trình cung cấp dịch vụ phụ thuộc nhiều vào con người bao gồm cả nhân viên của doanh nghiệp và khách hàng sử dụng dịch vụ. Chính đặc điểm không đồng nhất của dịch vụ sẽ hướng những nhà quản trị vào các chiến lược marketing cá nhân hóa khách hàng thay vì marketing hàng loạt.
- Tính không thể tách rời (Inseparability): Đây là sự khác biệt rõ nét giữa sản phẩm và dịch vụ. Đối với dịch vụ, khách hàng tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ, chỉ khi có khách hàng thì dịch vụ mới được cung cấp. Do khách hàng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất dịch vụ nên sự hài lòng của khách hàng thường yêu cầu ở mức cao hơn.3 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ Fiber VNN FiberVNN là một công nghệ dùng để truy cập Internet tân tiến nhất hiện nay. Công nghệ này dùng đường truyền dẫn bằng cáp quang đến các địa chỉ thuê bao giúp khách hàng có thể sử dụng đa dịch vụ trên mạng viễn thông có chất lượng cao bao gồm cả dịch vụ giải trí truyền hình.
Dịch vụ FiberVNN được dựa trên nền tảng công nghệ FTTH (Fiber To The Home). Công nghệ cáp quang FTTH là công nghệ mạng viễn thông băng thông rộng bằng cáp quang được nối đến tận nhà để cung cấp các dịch vụ tốc độ cao như điện thoại, Internet tốc độ cao và tivi (FTTH/xPON). Đây là dịch vụ truy cập Internet bằng cáp quang, thay cho cáp đồng tiêu chuẩn từ trước đến nay. Dịch vụ Fiber VNN có các đặc điểm sau: 7 - Đường truyền có tốc độ ổn định, tốc độ truy cập Internet cao.
- Không bị suy hao tín hiệu bởi nhiễu điện từ, thời tiết hay chiều dài cáp. - An toàn cho thiết bị, không sợ sét đánh lan truyền trên đường dây. - Nâng cấp băng thông dễ dàng mà không cần kéo cáp mới. - Đáp ứng hiệu quả cho nhiều ứng dụng như: Hosting Server riêng, VPN (mạng riêng ảo), Truyền dữ liệu, Game Online, IPTV (truyền hình tương tác), VoD (xem phim theo yêu cầu), Video Conferrence (hội nghị truyền hình), IP Camera,… 1.2 Tổng quan về hành vi tiêu dùng và quá trình ra quyết định của người tiêu dùng 1.1 Khái niệm hành vi người tiêu dùng Theo nghiên cứu của Kotler and Keller (2006) cho rằng hoạt động nghiên cứu hành vi người tiêu dùng là hoạt động nghiên cứu xem các cá nhân, nhóm, tổ chức thực hiện quá trình lựa chọn, mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm, dịch vụ, kinh nghiệm hay ý tưởng để thỏa mãn nhu cầu và những tác động ngược lại của quá trình này lên người tiêu dùng và xã hội.
Quan điểm của Hoyer et al. (2013) thì khái niệm rằng hành vi người tiêu dùng được hiểu là một loạt các quyết định (nên hay không nên, cái gì, tại sao, như thế nào, khi nào, nơi nào, v.) về việc tiêu dùng (bao gồm việc mua, sử dụng và loại bỏ) một sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ, hoạt động, kinh nghiệm, con người, ý tưởng) thông qua quá trình ra quyết định (thu thập thông tin, ảnh hưởng, quyết định, mua, sử dụng) theo thời gian (giờ, ngày, tuần, tháng, năm). Tiếp cận từ một góc độ khác thì nghiên cứu của Solomon (2013) đã đưa ra quan điểm rằng hành vi người tiêu dùng là một quá trình của cá nhân hay của một nhóm người khi lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng, hoặc những kinh nghiệm, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ thông qua quá trình ra quyết định theo thời gian. Như vậy, ta có thể khái quát: hành vi người tiêu dùng là những hành động tốt nhất và hợp lý nhất thõa mãn mục tiêu cá nhân thông qua quá trình ra quyết định theo thời gian.2 Mô hình hành vi mua người tiêu dùng Theo Philip Kotler (1996), mô hình hành vi mua của người tiêu dùng được sử dụng để mô tả mối quan hệ giữa ba yếu tố: Các nhân tố kích thích, hộp đen ý thức và các phản ứng đáp lại.
Các nhân tố Hộp đen ý thức Các phản ứng kích thích đáp lại Hình 1.1 Mô hình về hành vi người tiêu dùng Nguồn: Philip Kotler (1996) - Các nhân tố kích thích: là tất cả các tác nhân, lực lượng bên ngoài người tiêu dùng có thể gây ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng (Philip Kotler, 1996). Các nhân tố này được chia thành hai nhóm chính: Các tác nhân trong nội bộ doanh nghiệp và các tác nhân bên ngoài không thuộc quyền kiểm soát tuyệt đối của các doanh nghiệp - Hộp đen ý thức: là cách gọi bộ não của con người và cơ chế hoạt động của nó trong việc tiếp nhận, xử lý các kích thích và đề xuất các giải pháp đáp ứng trở lại các kích thích đã tiếp nhận. Hộp đen ý thức của người tiêu dùng được chia thành hai phần đó là: Các đặc tính của người tiêu dùng và quá trình quyết định mua của người tiêu dùng - Các phản ứng đáp lại: là những phản ứng mà người tiêu dùng bộc lộ trong quá trình trao đổi mà ta quan sát được như là hành vi tìm kiếm thông tin, lựa chọn nhà cung ứng hoặc hàng hóa, dịch vụ,….3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Hành vi của người mua ảnh hưởng bởi 03 yếu tố như thu nhập, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm. Yếu tố thu nhập có ý nghĩa khi người tiêu dùng quyết định chi tiêu tiền để mua các sản phẩm, chẳng hạn như cho thuê, kinh doanh,.Yếu tố sử dụng có nghĩa khi người tiêu dùng dùng sản phẩm có giá cao và có chất lượng.
Yếu tố vứt bỏ là không có sự phân phối hoặc nơi đặt một sản phẩm (Hoyer and MacInnis, 2008). 9 Theo Kotler and Keller (2012) việc mua sắm của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng của rất nhiều các nhân tố khác nhau, trong đó chia thành bốn nhóm nhân tố chính: (1) Nhân tố văn hóa, (2) Nhân tố xã hội, (3) Nhân tố cá nhân, (4) Nhân tố tâm lý (Hình 1.2 Mô hình chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng Nguồn: Kotler and Keller (2012) - Nhân tố văn hóa: được đánh giá là có ảnh hưởng sâu rộng đến hành vi người tiêu dùng, là lực lượng cơ bản đầu tiên biến nhu cầu tự nhiên của con người thành ước muốn được xem xét đến như nền văn hóa, nhánh văn hóa và tầng lớp xã hội của người mua (Kotler and Keller, 2012). - Nhân tố xã hội: Những nhân tố xã hội như nhóm tham khảo, gia đình và vai trò của địa vị xã hội cũng ảnh hưởng mạnh đến hành vi của người tiêu dùng. - Nhân tố cá nhân: Người tiêu dùng quyết định mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân.
Đặc tính cá nhân là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định mua của người tiêu dùng. Những nét đặc trưng bề ngoài của con người đặc biệt là các nhân tố như: (1) tuổi và giai đoạn chu kỳ sống; (2) nghề nghiệp; (3) hoàn cảnh kinh tế; (4) lối sống; (5) nhân cách và tự ý thức cũng ảnh hưởng đến quyết định của người tiêu dùng (Kotler and Keller, 2012). - Nhân tố tâm lý: Là những tác nhân bên trong người tiêu dùng, thúc đẩy hoặc kìm hãm hành vi của họ. Hành vi lựa chọn mua hàng của người tiêu dùng bị 10 ảnh hưởng bởi 04 yếu tố tâm lý (Kotler and Keller, 2012): Động cơ, nhận thức, hiểu biết, niềm tin và thái độ 1.4 Quá trình ra quyết định của khách hàng Theo Kotler and Keller (2012), để thực hiện một giao dịch, khách hàng phải qua một quá trình gồm 05 giai đoạn: nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án thay thế, quyết định mua, hành vi sau khi mua.
Nhận thức Tìm kiếm Đánh giá Quyết định Hành vi sau nhu cầu thông tin phương án mua khi mua Hình 1.