CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CUNG ỨNG 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu về chuỗi cung ứng đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước thực hiện, dưới là một số công trình của các tác giả: Tác giả PGS.TS Phan Chí Anh (2016) với đề tài nghiên cứu “Quản trị chất lượng chuỗi cung ứng hướng tới phát triển bền vững các doanh nghiệp sản xuất chế tạo” mang mã số 502.04 được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), là tiền đề của cuốn sách “Quản trị chất lượng chuỗi cung ứng: Cơ sở lý luận và một số kinh nghiệm thực tế tại Việt Nam”, kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và điều tra khảo sát thực địa, tổng hợp lý luận nền tảng về quản trị chất lượng và quản trị chuỗi cung ứng và các kinh nghiệm xây dựng, triển khai mô hình quản trị chất lượng chuỗi cung ứng tại các nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Đức áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam. Với những nội dung được triển khai hướng tới làm rõ cơ sở lý luận, các đặc điểm, mô hình/ khung phân tích quản trị chất lượng chuỗi cung ứng, kết quả và hiệu quả áp dụng quản trị chất lượng chuỗi cung ứng các doanh nghiệp sản xuất chế tạo cũng như tác động của quản trị chất lượng chuỗi cung ứng tới lợi thế cạnh tranh và sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Việt Nam khi tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tác giả Lê Đoàn (2013) trong nghiên cứu “Giải pháp hoàn thiện hoạt động chuỗi cung ứng tại công ty TNHH Mitsuba M-tech Việt Nam”. Trong tác phẩm, tác giả thực hiện nghiên cứu lý thuyết về hoạt động chuỗi cung ứng, nghiên cứu và mô tả thực trạng hoạt động hoạt động chuỗi cung ứng tại công ty TNHH Mitsuba Mtech Việt Nam bằng cách phỏng vấn trực tiếp ban lãnh đạo, cán bộ quản lý và nhân viên có liên quan đến chuỗi cung ứng và hoạt động chuỗi cung ứng.
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả phân tích thực trạng hoạt động chuỗi cung ứng tại công ty theo từng bước là cung ứng, sản xuất, tồn trữ và phân phối. Đưa ra số liệu đề phân tích hiệu quả hoạt động quản trị chuỗi cung ứng. Kết thúc nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động chuỗi cung ứng của công ty. Nghiên cứu của tác giả là nghiên cứu đầu tiên về hoạt động chuỗi cung ứng của công ty TNHH Mitsuba M-tech Việt Nam nên có đóng góp quan trọng giúp ban lãnh đạo công ty xây dựng các chiến lược hoàn thành chuỗi.
Tuy nhiên, do nghiên cứu của tác giả chỉ được thực hiện bằng phương pháp truyền thống, không tiễn hành nghiên cứu định lượng kiểm định số liệu thu thập nên không có độ tin cậy cao. Tác giả Lê Thị Thùy Liên (2000) thực hiện nghiên cứu về “giải pháp nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp ở Việt Nam”. Thực hiện nghiên cứu, tác giả trình bày cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng sản phẩm gồm khái niệm, bản chất, vai trò, nội dung và các nhân tô ảnh hưởng của chuỗi cung ứng sản phẩm. Tiếp đến trên nền tảng cơ sở lý luận, tác giả phân tích thực trạng chuỗi cung ứng của sản phẩm nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 1997 — 2000 cũng như tình hình xuất khâu gạo của nước ta trong giai đoạn này.
Đồng thời, trong nghiên cứu tác giả cũng nêu lên các đề xuất để nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng của sản phẩm nông nghiệp nước ta giai đoạn tới. Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng dé phát triển các sản phẩm nông nghiệp nơiớc ta thời kỳ nước ta van còn độc canh cây lúa, nông nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn. Tuy nhiên, với sự biến động không ngừng của nền kinh tế, sự chuyền dịch kinh tế với tốc độ nhanh thì nghiên cứu của Lê Thị Thùy Liên còn bộc lộ nhiều hạn chế và không còn giá trị thực tiễn đối với nền kinh tế nước ta hiện nay. Handfield và Bechtel (2002) khi nghiên cứu về “Vai trò của sự tín nhiệm và mức độ quan hệ trong việc cải tiến trách nhiệm chuỗi cung ứng” đã đưa ra mô hình nhằm xây dựng các mối quan hệ chủ yếu giữa nhà cung cấp và ngojời mua dựa vào sự tín nhiệm, các nhà cung cấp buộc phải đầu tư vào tài lực và nguồn nhân lực, những người mua phải vận dụng các hợp đồng một cách thận trọng dé kiểm soát các mức độ phụ thuộc liên quan đến mối quan hệ.
Mô hình đưa ra biến phụ thuộc là trách nhiệm của các thành viên trong chuỗi cung ứng thông qua các biến độc lập là mức độ tín nhiệm và sự phụ thuộc vao người mua, hop đồng, mức độ đầu tư vào tài sản cố định, nguồn nhân lực.Các tác giả cũng đưa ra giả định rằng tất cả các biến phụ thuộc có quan hệ thuận với trách nhiệm chuỗi cung ứng ngoại trừ sự phụ thuộc của người mua thông qua 9 giả thuyết. Kết quả cho thấy rằng thậm chí trong những trường hợp khi lượng cầu vượt quá khả năng cung ứng của nhà cung cấp (lượng cung), sự khan hiếm xảy ra và khi đó hợp tác dé xây dung lòng tin — sự tín nhiệm (trust) trong mối quan hệ chuỗi có thê cải tiến được trách nhiệm nhà cung cấp và nâng cao sự hợp tác trong chuỗi cung ứng. Tác giả Huỳnh Thị Thu Sương (2012) tiến hành nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh huởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng đồ gỗ, trường hợp nghiên cứu: vùng Đông Nam Bộ”. Trong nghiên cứu, tác giả tiến hành hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng, các nhân tố ảnh hưởng đến sự hợp tác chuỗi cung ứng, chuỗi cung ứng đồ gỗ trên thế giới và tại Việt Nam.
Đồng thời, nghiên cứu phát triển hệ thong thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng đồ gỗ nhằm từng bước thiết lập hệ thống đo lường, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Nghiên cứu của tác giả là một công trình thử nghiệm kết hợp giữa nghiên cứu hàn lâm lặp lại và nghiên cứu ứng dụng, qua đó xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu với các nhân tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng đồ gỗ. Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu phản ánh độ tin cậy cũng như bổ sung và phát triển về mặt phương pháp luận trong đánh giá sự hợp tác và đề xuất các giải pháp khả thi. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả tập trung cụ thể vào các doanh nghiệp đồ gỗ khác với dé tài nghiên cứu của tác giả, nghiên cứu trong phạm vi rộng các doanh nghiệp sản xuất nên kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thi Thu Sqong không thé áp dụng vào nghiên cứu của tác giả luận văn.
Togar và Sridharan (2002) trong công trình nghiên cứu về “Chỉ số hợp tác: một thươc đo về sự hợp tác chuỗi cung ứng” đã đưa ra các giả định hướng dẫn dé đo lường sự mở rộng về hợp tác của chuỗi cung ứng cụ thé là sự hợp tác của 2 thành phần chính trong chuỗi là nhà cung cấp và nhà bán lẻ. Mô hình giả định về sự hợp tác kết hợp chặt chẽ các thói quen hợp tác trong việc chia sẻ thông tin, thống nhất trong việc ra quyết định và chính sách động viên. Một danh mục hợp tác được đưa ra nhằm đo lường mức độ thói quen hợp tác. Một khảo sát về nội dung danh mục hợp tác tại các doanh nghiệp ở New Zealand đã thực hiện và được kiểm định, đánh giá thông qua việc phân tích dữ liệu thu thập.
Kết quả khảo sát xác nhận độ tin cậy va giá trị các giả định về danh mục hợp tác tỷ lệ thuận với các kỹ thuật hoạt động. Đóng góp của nghiên cứu này về mặt lý thuyết đã giới thiệu một danh mục mới nhằm do lơiờng sự mở rộng hợp tác chuỗi cung ứng. Việc do lường có thé được sử dụng bat kỳ thành viên nào trong chuỗi dé xác định mức độ hợp tác và tìm kiếm sự cải tiến. Nhờ vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước tiếp cập theo hướng khác nhau về chuỗi cung ứng.
Tuy nhiên theo kết quả của từng công trình đã công bố thì hầu như chưa xây đựng một mô hình đầy đủ về các nhân tô ảnh hưởng đến hiệu quả chuỗi cung ứng các doanh nghiệp sản xuất. Một vài nghiên cứu lại chưa thực hiện kiêm định lại ly thuyêt vê các nhân tô đó cũng như chưa xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tô được nhận diện có tác động khác nhau lên hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng các doanh nghiệp sản xuât.1 Khái niệm về cung ứng Trong quá trình tôn tại và phát triên của các doanh nghiệp ngày nay đê thành công trong bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào thì hoạt động mua hàng, cung ứng hàng hóa là hoạt động không thẻ thiếu. Doanh nghiệp muốn đưa hàng hóa, dịch vụ của mình đến tay khách hang thì cần quan tâm đến dòng chảy của sản phẩm, từ khâu nguyên vật liệu, sản xuất của các nhà cung cấp cho đến khâu đóng gói vận chuyên tới tay khách hàng cuối cùng. Xã hội ngày càng phát triển thì vai trò của cung ứng càng thêm quan trọng bởi cạnh tranh toàn cầu đang ngày khốc liệt khiến cho chu kỳ sống của các sản phẩm rút ngắn đáng kể, ma mức ky vọng của khách hàng thì lại một cao hơn khiến cho các doanh nghiệp buộc phải chú trọng đầu tư hơn vào quy trình cung ứng của mình.
Không chỉ vậy, công nghệ hiện đại phát triển, trở thành những nhân tô chủ chốt thay đổi và thúc đây sự phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng một cách đáng kể. Ngày này, chuỗi cung ứng có thê coi là vũ khí chiến lược của các doanh nghiệp trên thị trường cạnh tranh khốc liệt. Mặc dù khái niệm về chuỗi cung ứng còn khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã đưa ra khá nhiều khái niệm về chuỗi cung ứng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Có thé ké đến một số quan điểm tiêu biểu về chuỗi cung ứng như: “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyên đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng” (Ganesham, Ran & Terry, 1995).