Chương I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đa dạng sinh học - Tầm quan trọng và tình hình nghiên cứu bảo tồn 1. Đa dạng sinh học Đa dạng sinh học được hiểu là sự phong phú về sự sống trên trái đất bao gồm các nguồn gen; các loài (vi sinh vật, thực vật, động vật) và các hệ sinh thái. Theo đó, đa dạng sinh học được định nghĩa là sự đa dạng giữa các loài sinh vật từ tất cả các nguồn, vùng trời, vùng đất, vùng biển, các hệ sinh thái thuỷ vực nội địa và các phức hệ sinh thái mà chúng là thành viên, bao gồm sự đa dạng trong mỗi loài, giữa các loài và các hệ sinh thái.
Trên cơ sở đó, các nhà sinh học thường xem xét đa dạng sinh học ở 3 góc độ: đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Đa dạng sinh học được xem xét trong mối tương tác của hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội. Tầm quan trọng của đa dạng sinh học Đa dạng sinh học có một giá trị vô cùng to lớn không thay thế được, trước tiên là đối với sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh học, trong đó có con người, tiếp đến là về mặt kinh tế, xã hội, văn hoá và giáo dục. Nhưng quan trọng hơn cả là ĐDSH có một giá trị đặc biệt về khoa học và ứng dụng trong thực tiễn thuộc các lãnh vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, y tế và các lĩnh vực khác.
Về giá trị đa dạng sinh học có thể khái quát như sau: - Giá trị kinh tế; - Giá trị sinh thái và môi trường; - Giá trị về đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ, văn hoá, lịch sử, tín ngưỡng và giải trí của con người. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các nghiên cứu về ĐDSH trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Ngày nay bảo tồn ĐDSH đã trở thành một chiến lược toàn cầu.
Nhiều tổ chức quốc tế đã có hoạt động hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển ĐDSH trên toàn phạm vi thế giới như IUCN, Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNDP), WWF, Viện tài nguyên quốc tế (IPGRI) v. Nhu cầu cơ bản và sự sống còn của loài người phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên của trái đất, nhất là tài nguyên ĐDSH, nếu những nguồn tài nguyên đó bị giảm sút thì cuộc sống của chúng ta và con cháu mai sau sẽ bị đe doạ.Con người đã quá lam dụng trong việc khai thác các nguồn tài nguyên của trái đất mà không nghĩ đến tương lai, có thể nói đây là một thảm hoạ. Để tránh điều này, chúng ta phải tôn trọng trái đất và sống một cách bền vững, dù chậm vẫn hơn không. Vì thế, tại Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và ĐDSH đã được tổ chức ở Rio de Janero (Brazil) vào tháng 6 năm 1992, 150 nước đã ký vào công ước về bảo tồn ĐDSH.
Từ đó nhiều hội thảo được tổ chức và nhiều cuốn sách có nội dung liên quan đã được xuất bản từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Tất cả những tài liệu đó đều mang tính chiến lược và chương trinh hành động nhằm hướng dẫn về bảo tồn ĐDSH, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai. Việc hoàn thành các khu bảo vệ thiên nhiên để bảo tồn ĐDSH được con người chú ý từ lâu. VQG Yellowstone củ Mỹ là khu bảo vệ thiên nhiên đầu tiên trên thế giới được thành lập năm 1872.
Mục đích xây dựng VQG này là bảo tồn nguyên vẹn trạng thái tự nhiên của vùng cao nguyên miệng núi lửa ở độ cao 2400 mét và cứu vãn sự tiêu diệt của các loài thú hoang dã như Bò rừng, Gấu đen, Gấu xám, Hươu, Hải ly. và hơn 200 loài chim như Bồ nông, Đại bàng.Bên cạnh việc xây dựng các khu BTTN thì con người vẫn tiếp tục các hoạt động khai thác quá mức các nguồn tài nguyên đó, và kết quả là sự suy thoái ĐDSH trên trái đất đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Giữa những năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- 1980, Châu Phi nhiệt đới đã mất đi 65% vùng sinh sống tự nhiên, còn khu vực nhiệt đới Đông Nam Á mất đi 68%. Người ta ước tính rằng nếu thế giới có khoảng 5-30 triệu loài sinh vật thì trong số đó cho đến nay con người chỉ mới biết được khoảng 1,7 triệu loài.
Trong những năm vừa qua, sự mất mát về các loài, sự suy thoái của các hệ sinh thái tự nhiên, nhất là rừng nhiệt đới đã diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng thấy, mà nguyên nhân chính là do tác động của con người [4,5,22]. Đến nay đã có hơn 40% diện tích rừng nhiệt đới nguyên thuỷ bị huỷ diệt, trung bình hàng năm khoảng 6-7 triệu hecta đất trồng trọt bị mất khả năng sản xuất do nạn xói mòn [24,34]. Ước tính 5-10% số loài trên thế giới sẽ biến mất vào khoảng giữa những năm 1990 đến 2020, và số loài bị tiêu diệt sẽ tăng lên đến 25% vào khoảng năm 2050. Trước đòi hỏi bức thiết đó, Chính phủ các nước trên thế giới đã thông qua 05 Công ước quốc tế liên quan trực tiếp đến bảo tồn ĐDSH, đó là: + Công ước ĐDSH CBD được ký kết ở Hội nghị thượng đỉnh Rio de Janero tháng 6/1992 và có hiệu lực vào cuối năm 1993, cho đến nay đã được 127 nước phê chuẩn.
+ Công ước về đất ngập nước (RAMSAR) + Công ước CITES + Công ước Di sản Thế giới + Công ước Bảo tồn các loài động vật hoang dã di trú (CMS). Nhận thức được giá trị không thể thiếu của ĐDSH đối với sự tồn tại của xã hội loài người và đứng trước sự suy giảm với tốc độ ngày càng nhanh, các nước đã đầu tư nhiều công sức để giữ gìn chúng. Một trong những nỗ lực mà nhiều nước triển khai đó là giành nhiều diện tích để thành lập các khu BTTN nhằm bảo vệ nguyên vị các hệ sinh thái điển hình, các loài động thực vật hoang dã đặc biệt là các loài đặc hữu, có vùng phân bố hẹp, loài quí hiếm và có nguy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- cơ bị tuyệt chủng [14,20,21,22]. Đây là giải pháp vô cùng quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH trên toàn cầu cũng như tại mỗi quốc gia trong thời đại ngày nay [3,6,32,39].
Việc hình thành các khu bảo vệ thiên nhiên để bảo tồn ĐDSH được con người chú ý từ lâu. VQG Yellowstone của Mỹ là khu bảo vệ thiên nhiên đầu tiên trên thế giới, được thành lập năm 1872. Bảo tồn vì mục đích giáo dục và tính nghiêm ngặt giảm dần từ trên xuống Năm 1994 tại Caracar thủ đô Venezuela, IUCN đã đưa ra hệ thống mới để bao gồm các loại hình để quản lý. Tuỳ theo loại ình mà mức độ quản lý khác nhau.
1) Khu bảo tồn nghiêm ngặt (gồm hai mục đích) - Mục đích khoa học - Bảo vệ tính hoang dã tự nhiên 2) Vườn Quốc Gia: Quản lý để bảo vệ các hệ sinh thái và vui chơi giải trí 3) Thắng cảnh tự nhiên: Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên đặc biệt 4) Bảo vệ loài và sinh cảnh: Bảo vệ một số sinh cảnh và loài đặc biệt cần bảo vệ. 5) Khu bảo tồn cảnh quan: Bảo vệ cảnh quan đẹp cho giải trí và du lịch 6) Khu bảo tồn tài nguyên có quản lý: Sử dụng bền vững hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên. Hệ thống phân loại của UNESSCO còn phân thành các loại như sau - Khu Di sản thiên nhiên thê giới - Khu Dữ trử sinh quyển Theo công ước Ramsar: Khu bảo tồn đất ngập nước Ramsar LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- Hệ thống phân loại RĐD tại Việt Nam - Vườn Quốc Gia - Khu Bảo tòn thiên nhiên + Khu bảo tồn loài và sinh cảnh + Khu dự trữ thiên nhiên - Khu bảo vệ cảnh quan - Khu nghiên cứu thực nghiệm và khoa học Hệ thống phân loại các khu RĐD ở Việt Nam so với hệ thống phân loại do IUCN đưa ra có số lượng loại hình RĐD ít hơn, nhưng nhìn chung nó cũng đã bao hàm các loại hình mà IUCN đưa ra. Ở Việt Nam Vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam là khu vực có địa hình đa dạng hiểm trở, đặc biệt các vùng rừng núi nằm dọc biên giới Việt-Lào đã tạo nên đa dạng các hệ sinh thái cũng như sự phong phú về khu hệ động thực vật hoang dã, với nhiều loài có tầm quan trọng về bảo tồn đối với thế giới.
và các Khu BTTN như Kẽ Gỗ, các Khu rừng di tích lịch sử, cảnh quan môi trường. Từ trước đến nay nhiều nghiên cứu đã được tiến hành trong vùng, Nguyễn Thái Tự (1995)[27] cho rằng tài liệu khoa học sớm nhất nghiên cứu về ĐDSH Bắc Trung Bộ là của tác giả G. Tirant năm 1883 [17,18], nhiều loài được phát hiện ở thời kỳ sơ khai này đến nay vẫn là loài đặc hữu của Bắc Trung Bộ như Cá ních (Altigena annamensis), tiếp theo là các loài gà lôi. Tác giã cũng đã đưa ra danh mục gồm 45 loài động vật đặc hữu của Bắc Trung Bộ.
Điều đặc biệt trong 2 năm (1992 và 1994), là tại đây đã phát hiện được các loài thú mới như Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) và Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis), cũng như Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis). Phạm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 10 - Nhật, Nguyễn Xuân Đặng (1999) [31,33] trong báo cáo “Primates in Phong Nha Ke Bang area: The status overview and recomendations for further survey and monitoring” đã khẳng định vùng Phong Nha Kẻ Bàng là trung tâm linh trưởng quan trọng của Việt Nam, ít nhất đã ghi nhận được 11 trên tổng số 25 loài và phân loài linh trưởng có ở Việt Nam. Phạm Nhật và các cộng sự (2001) trong báo cáo kết quả điều tra khu hệ thú ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, đã xác định sự có mặt của 98 loài thú, thuộc 24 họ, 9 bộ , trong đó đã phát hiện thêm hai loài / phân loài mới cho Việt Nam là Thỏ vằn (Nesolagus timini) và Voọc đen tuyền (Trachypithecus francosi ebenus). Nguyễn Hoàng Nghĩa (1999) đã tiến hành nghiên cứu một số loài cây bị đe doạ ở Việt Nam, trong đó vùng phân bố của 40 loài bị đe doạ tập trung ở hệ thống rừng đặc dụng Bắc Trung Bộ và đề xuất phương án bảo tồn cho từng loài.
Nguyễn Thái Tự, Nguyễn Xuân Khoa, Lê Việt Thắng (1999) Trong nghiên cứu khu hệ cá Phong Nha - Kẻ Bàng và bổ sung thêm 11 loài, nâng tổng số lên 72 loài thuộc 23 họ 11 bộ.