Tổng quan nghiên cứu
Rừng phòng hộ Phu Phạ thuộc địa bàn huyện Sốp Bâu, tỉnh Hua Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, sở hữu tổng diện tích tự nhiên 12.078 ha. Đây là khu vực rừng tự nhiên đặc trưng cho địa hình đồi núi dốc vùng Đông Bắc Lào, giữ vai trò xung yếu trong việc điều tiết nguồn nước đầu nguồn, chống xói mòn và bảo vệ môi trường sinh thái cho lưu vực sông Mã. Dù vậy, áp lực sinh kế từ 4.362 hộ gia đình với 25.852 nhân khẩu tại 67 bản lân cận cùng tập quán du canh du cư và tình trạng khai thác lâm sản tự do đã làm suy thoái chất lượng thảm thực vật tự nhiên. Trước năm 2019, các dữ liệu kiểm kê khoa học về hệ thực vật tại Phu Phạ gần như chưa được xây dựng một cách hệ thống.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng của tác giả Phouvisit Sengphatham, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vương Duy Hưng tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, đã giải quyết khoảng trống học thuật này. Nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 11/2018 đến tháng 05/2019 nhằm thiết lập cơ sở dữ liệu khoa học về thành phần loài, cấu trúc phân loại, phổ dạng sống và các yếu tố địa lý của hệ thực vật. Đồng thời, đề tài đánh giá hiện trạng 6 loài nguy cấp trong Danh lục Đỏ IUCN và đề xuất hệ thống giải pháp quản lý bền vững, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu chuyển hạng 12.078 ha rừng phòng hộ Phu Phạ thành Khu bảo tồn thiên nhiên cấp tỉnh và duy trì tỷ lệ che phủ rừng 47% của toàn nước Lào.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu áp dụng hệ thống phân loại thực vật học của R. K. Brummitt (1992) để sắp xếp và chuẩn hóa danh mục thực vật bậc cao có mạch theo 4 bậc taxon chính: ngành, lớp, họ, chi và loài. Bản chất sinh thái của hệ thực vật được phân tích dựa trên lý thuyết phổ dạng sống của Raunkiaer (1934), kết hợp phương pháp hiệu chỉnh của Thái Văn Trừng (1999) phù hợp với điều kiện sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa phân hóa hai mùa mưa - khô rõ rệt.
Để làm rõ nguồn gốc phát sinh và mối liên hệ khu hệ, đề tài sử dụng khung phân tích yếu tố địa lý thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (1999, 2004), phân loại các taxon theo 6 nhóm yếu tố chính từ toàn cầu, liên nhiệt đới, cổ nhiệt đới đến nhiệt đới châu Á. Đồng thời, nguyên lý đánh giá tính đa dạng họ của Tolmachev (1974) và chỉ số tương đồng đa dạng sinh học Sorenson (1983) được sử dụng làm cơ sở định lượng mức độ phong phú loài. Ba khái niệm chuyên ngành nền tảng gồm: phổ sinh học thực vật (biological spectrum), họ đơn loài (monotypic family) và loài nguy cấp theo tiêu chuẩn IUCN (2019).
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp từ 281 số hiệu mẫu thực vật thu thập qua 5 đợt khảo sát thực địa trong khoảng thời gian từ tháng 11/2018 đến tháng 05/2019. Phương pháp chọn mẫu theo tuyến điều tra sinh thái được thiết kế bao quát 8 tuyến khảo sát với chiều dài 6 đến 10 km mỗi tuyến, phân bổ đều trên 4 bản trọng điểm: bản Na Khăm Hăng (2 tuyến), bản Đán Hôm (3 tuyến), bản Na Khun (2 tuyến) và bản Na Nhôm (1 tuyến). Lý do lựa chọn phương pháp điều tra tuyến kết hợp khảo sát theo đai cao là nhằm thu thập tối đa các dạng sinh cảnh đại diện, hạn chế bỏ sót các loài phân bố hẹp trên địa hình đồi núi hiểm trở.
Phương pháp giám định mẫu sử dụng hình thái so sánh, đối chiếu trực tiếp với mẫu chuẩn tại phòng tiêu bản của Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Đại học Quốc gia Lào và các bộ thực vật chí Đông Dương. Phương pháp phân tích thống kê định lượng được lựa chọn để xử lý tỷ trọng taxon, tính toán hệ số chi/họ và định vị các nhóm công dụng lâm sản. Ngoài ra, tác giả kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ kiểm lâm và người dân tại 8 bản giáp ranh để đánh giá các nguyên nhân tác động trực tiếp và gián tiếp đến tài nguyên thực vật bản địa.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, hệ thực vật bậc cao có mạch tại rừng phòng hộ Phu Phạ gồm 200 loài thuộc 166 chi, 87 họ nằm trong 4 ngành: Thông đất (Lycopodiophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Thông (Pinophyta) và Ngọc lan (Magnoliophyta). Trong đó, ngành Ngọc lan chiếm ưu thế vượt trội với 194 loài (chiếm 97,00% tổng số loài), 160 chi (96,39%) và 81 họ (93,10%). Tỷ lệ loài giữa lớp Ngọc lan (160 loài) so với lớp Loa kèn (34 loài) đạt mức 4,70, khẳng định bản chất của hệ thực vật nhiệt đới điển hình.
Thứ hai, cấu trúc 10 họ giàu loài nhất tập hợp 84 loài (chiếm 42,00% tổng số loài) và 63 chi (chiếm 38,00% tổng số chi). Đứng đầu là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và họ Đậu (Fabaceae) cùng có 13 loài (chiếm 6,50% mỗi họ), kế tiếp là họ Cà phê (Rubiaceae) và họ Dẻ (Fagaceae) với 9 loài mỗi họ (4,50%). Cấp chi ghi nhận chi Sung (Ficus) và chi Dẻ gai (Castanopsis) đa dạng nhất với 5 loài mỗi chi (chiếm 2,50%). Toàn khu hệ ghi nhận tới 54 họ đơn loài (chiếm 62,07% tổng số họ), đại diện bởi các loài có giá trị cao như Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus) và Giổi xanh (Michelia mediocris).
Thứ ba, nghiên cứu xác định 6 loài nguy cấp quý hiếm theo Danh lục Đỏ IUCN (2019), bao gồm Trầm hương (Aquilaria crassna) ở mức Cực kỳ nguy cấp (CR A2cd) cùng Lát hoa (Chukrasia tabularis), Thủy xương bồ (Acorus calamus), Thạch xương bồ (Acorus gramineus), Hu đay (Trema orientalis) và Cói hoa xòe (Cyperus diffusus) ở mức Ít quan tâm (LC). Về mặt công dụng, 200 loài cung cấp 327 lượt giá trị sử dụng, dẫn đầu là nhóm cây làm thuốc với 141 loài (chiếm 70,50%), nhóm cây làm thực phẩm với 61 loài (30,50%) và nhóm cây lấy gỗ với 55 loài (27,50%).
Thảo luận kết quả
Cấu trúc phân loại của khu hệ phản ánh sự thích nghi với lượng mưa trung bình 1.598,74 mm/năm và nền nhiệt độ trung bình 24,2°C trên đất màu nâu đen nhiệt đới. Việc 10 họ giàu loài nhất chỉ chiếm 42,00% tổng số loài (thấp hơn ngưỡng 50% theo quy chuẩn Tolmachev) là minh chứng rõ ràng cho mức độ đa dạng họ cao. Trên thực tế, dữ liệu này có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ cột thể hiện tỷ trọng 4 ngành thực vật và biểu đồ tròn phân bố 10 nhóm công dụng tài nguyên để phục vụ công tác quy hoạch lâm nghiệp.
Tỷ lệ 54 họ đơn loài đạt mức 62,07% đặt ra yêu cầu cấp bách trong công tác bảo tồn, vì sự suy giảm của một loài đơn lẻ sẽ làm biến mất hoàn toàn một taxon bậc họ trong khu vực. So sánh với các khu rừng phòng hộ tương đương tại Bắc Việt Nam như Quỳ Hợp (Nghệ An) và Ngọa Vân (Quảng Ninh), hệ thực vật Phu Phạ có mức độ tương đồng cao về các yếu tố di cư Đông Dương - Nam Trung Quốc và Đông Dương - Ấn Độ, khẳng định vị trí cầu nối đa dạng sinh học trong hành lang sinh thái Đông Nam Á lục địa.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, thực hiện giải pháp kỹ thuật bảo tồn nguyên vị (in-situ): Ban Quản lý rừng phòng hộ Phu Phạ phối hợp với Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Hua Phăn khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt diện tích phân bố của 54 họ đơn loài và 6 loài quý hiếm theo IUCN (2019), đặc biệt là loài Trầm hương (Aquilaria crassna). Mục tiêu giai đoạn 2020 - 2023 là lập hồ sơ định vị GPS cho 100% các cá thể cây mẹ tái sinh và thiết lập 8 trạm kiểm soát lưu động trên các tuyến xâm nhập chính.
Thứ hai, triển khai kỹ thuật bảo tồn chuyển vị (ex-situ) và nhân giống: Phòng Nông Lâm nghiệp huyện Sốp Bâu chủ trì xây dựng vườn ươm thực nghiệm diện tích 2 ha trong giai đoạn 2021 - 2024. Trọng tâm là hoàn thiện quy trình nhân giống vô tính và hữu tính cho 55 loài cây lấy gỗ chất lượng cao như Lát hoa (Chukrasia tabularis) và Giổi xanh (Michelia mediocris) nhằm cung cấp 50.000 cây giống bản địa mỗi năm cho công tác trồng rừng phục hồi.
Thứ ba, phát triển sinh kế cộng đồng gắn với quản lý rừng bền vững: Chính quyền huyện Sốp Bâu thực hiện giao khoán rừng gắn với quyền lợi khai thác có kiểm soát 141 loài cây thuốc và 61 loài cây thực phẩm cho 4.362 hộ dân vùng đệm. Mục tiêu đến năm 2025 giúp tăng thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ lên mức 25 - 30% trong cơ cấu kinh tế hộ, hạn chế triệt để hành vi phá rừng làm nương rẫy.
Thứ tư, hoàn thiện khung thể chế và nâng cấp quản lý: Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Hua Phăn cùng Bộ Nông Lâm nghiệp Lào hoàn tất hồ sơ quy hoạch trong giai đoạn 2022 - 2025 để chính thức nâng hạng 12.078 ha rừng phòng hộ Phu Phạ thành Khu bảo tồn thiên nhiên cấp tỉnh, đồng thời ký kết quy chế tuần tra liên biên giới định kỳ 6 tháng một lần với các lực lượng kiểm lâm lân cận của Việt Nam.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Cán bộ quản lý lâm nghiệp và các ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên: Nắm vững phương pháp luận xây dựng danh lục thực vật, quy trình phân loại 200 loài thực vật bậc cao có mạch và áp dụng bộ giải pháp quản lý để chuyển đổi hiệu quả mô hình rừng phòng hộ 12.078 ha sang khu bảo tồn chuyên dụng.
Các nhà khoa học, chuyên gia thực vật học và sinh thái học: Khai thác bộ dẫn liệu 281 số hiệu mẫu thực vật tại khu vực Đông Bắc Lào để phục vụ nghiên cứu so sánh khu hệ thực vật Đông Dương, phân tích đường di lưu sinh vật học và đánh giá thích ứng của thảm thực vật trước biến đổi khí hậu.
Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển nông thôn: Sử dụng dữ liệu thống kê về 141 loài cây thuốc và 61 loài cây thực phẩm để xây dựng các dự án bảo tồn nguồn gen bản địa gắn liền với chuỗi giá trị lâm sản ngoài gỗ cho 25.852 người dân thuộc các cộng đồng dân tộc thiểu số.
Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm nghiệp, Sinh thái học: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về cấu trúc nghiên cứu thực vật rừng, từ phương pháp thiết kế 8 tuyến điều tra thực địa, xử lý số liệu hình thái đến cách tính toán các chỉ số đa dạng sinh học theo tiêu chuẩn quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
Hệ thực vật tại rừng phòng hộ Phu Phạ mang những nét đặc trưng phân loại cơ bản nào? Khu hệ ghi nhận 200 loài thuộc 166 chi, 87 họ của 4 ngành thực vật có mạch. Ngành Ngọc lan chiếm ưu thế tuyệt đối với 97,00% tổng số loài và 93,10% tổng số họ. Tỷ số loài giữa lớp Ngọc lan và Loa kèn đạt 4,70, chứng minh tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa đặc thù của vùng núi phía Bắc Lào.
Tại sao sự hiện diện của 54 họ đơn loài lại có ý nghĩa bảo tồn sinh thái đặc biệt quan trọng? Toàn khu vực ghi nhận 54 họ đơn loài, chiếm 62,07% tổng số họ thực vật. Về mặt sinh học phân loại, mỗi họ này chỉ được đại diện bởi duy nhất một loài tại khu vực nghiên cứu. Nếu loài đó bị tác động dẫn đến tuyệt chủng cục bộ, toàn bộ bậc taxon họ tương ứng sẽ biến mất hoàn toàn khỏi hệ sinh thái địa phương.
Hiện trạng các loài thực vật nguy cấp quý hiếm tại khu vực nghiên cứu được ghi nhận như thế nào? Theo Danh lục Đỏ IUCN (2019), khu hệ có 6 loài quý hiếm gồm Trầm hương (Aquilaria crassna) phân hạng Cực kỳ nguy cấp (CR) cùng Lát hoa (Chukrasia tabularis) và Thủy xương bồ (Acorus calamus) phân hạng Ít quan tâm (LC). Bốn trong số các loài này đang chịu áp lực khai thác thương mại rất lớn từ người dân địa phương.
Giá trị tài nguyên và tiềm năng sử dụng của hệ thực vật tại Phu Phạ phân bố ra sao? Nghiên cứu thống kê được 327 lượt giá trị sử dụng trên 200 loài thực vật. Trong đó, nhóm cây có công dụng làm thuốc chiếm tỷ trọng lớn nhất với 141 loài (70,50%), nhóm cây làm thực phẩm cho người và gia súc có 61 loài (30,50%) và nhóm cây cung cấp gỗ thương phẩm có 55 loài (27,50%).
Nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học gì cho công tác quy hoạch bảo tồn của tỉnh Hua Phăn? Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện đầu tiên về tính đa dạng loài, phổ dạng sống và các yếu tố đe dọa sinh thái trên diện tích 12.078 ha. Đây là luận cứ thực chứng quan trọng để các cơ quan thẩm quyền tỉnh Hua Phăn phê duyệt đề án nâng cấp rừng phòng hộ Phu Phạ thành Khu bảo tồn thiên nhiên.
Kết luận
- Luận văn đã xác lập danh lục khoa học đầu tiên cho rừng phòng hộ Phu Phạ gồm 200 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 166 chi, 87 họ trong 4 ngành thực vật.
- Khẳng định bản chất nhiệt đới gió mùa điển hình với ưu thế của ngành Ngọc lan (chiếm 97,00% số loài) cùng cơ cấu 10 họ giàu loài nhất chiếm 42,00% tổng số loài.
- Đánh giá hiện trạng 54 họ đơn loài nhạy cảm và 6 loài thực vật nguy cấp trong Danh lục Đỏ IUCN (2019), tiêu biểu là loài Trầm hương (Aquilaria crassna) ở cấp CR.
- Thống kê 327 lượt giá trị sử dụng tài nguyên với 141 loài cây làm thuốc (70,50%) và 55 loài cây lấy gỗ (27,50%), tạo tiền đề phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững.
- Xây dựng 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và xã hội khả thi, định hướng lộ trình nâng cấp thành công Khu bảo tồn thiên nhiên cấp tỉnh trong giai đoạn 2021 - 2025.
Các cơ quan quản lý tài nguyên và viện nghiên cứu chuyên ngành cần khai thác ngay nguồn cơ sở dữ liệu này để hoạch định các chương trình bảo tồn gen thực vật quý hiếm và xây dựng mô hình sinh kế rừng bền vững cho khu vực Đông Bắc Lào.