chương I), xin đề cập tới các cơ sở lý luận, pháp luật và kinh nghiệm về quản l{ đô thị, quản lý quy hoạch, các đề tài nghiên cứu liên quan. Trong tổng quan hiện trạng tác động của quy hoạch (chương II), trên cơ sở chứng minh các luận đề (các nhận định cần thảo luận) về 23 thực trạng tác động của quy hoạch và quản lý phát triển, tác giả sẽ làm rõ hơn { nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu và sự cần thiết của đề tài. Các khái niệm và thuật ngữ Ngoài các khái niệm và thuật ngữ về đô thị, quy hoạch đô thị đã được định nghĩa tại điều 3 của Luật Quy hoạch đô thị [82+, trong đề tài này một số thuật ngữ được hiểu như sau: 1. Đô thị thành phố Hồ Chí Minh, là không gian vật chất khu vực đô thị của TP Hồ Chí Minh.
Thành phố Hồ Chí Minh là toàn bộ không gian vật chất và kinh tế - xã hội trong ranh giới hành chính Thành phố. Quy hoạch phân vùng quản lý (PVQL) là việc phân chia đô thị thành các khu vực đô thị để phục vụ công tác quản lý quy hoạch. Từ “vùng” là tên gọi chung cho “vùng”, “khu” hay “khu vực”, hoặc cũng có thể bao gồm nhiều khu hay khu vực đô thị. Trong tiếng Việt ba danh từ này không phân cấp theo diện tích, chỉ phụ thuộc vào ngữ cảnh cụ thể.
Trong đề tài này xét về quy mô, “vùng” được hiểu có diện tích rộng hơn “khu vực”, “khu vực” có diện tích rộng hơn “khu”, “khu” rộng hơn “phân khu”. Tuy nhiên, từ “vùng” trong quy hoạch phân vùng quản lý có thể dùng chung cho khu vực, khu hay phân khu. Nói cách khác, phương pháp quy hoạch phân vùng có thể áp dụng cho tất cả các loại khu vực, khu hay phân khu; miễn là có mục tiêu phục vụ việc quản lý quy hoạch. Quy hoạch phân khu, Điều 3 luật QH đô thị định nghĩa: “Quy hoạch phân khu là việc phân chia và xác định chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị của các khu đất, mạng lưới công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội trong một khu vực đô thị nhằm cụ thể hoá nội dung quy hoạch chung”.
Luật QH đô thị chỉ định nghĩa và quy định nội dung của một loại quy hoạch phân khu (điều 3, điều 29). Tuy nhiên có thể gặp nhiều tên gọi phân khu (theo NĐ 37 *14] hay khu vực theo NĐ 11 *24] và Quyết định số 03/BXD [4] sẽ được đề cấp rõ hơn ở chượng II). Tổng hợp các kiểu phân khu, ta thấy có hai loại chính: +Phân khu chức năng sử dụng đất, là tên gọi các loại phân khu chức năng được quy hoạch để sử dụng đất phát triển đô thị. Đây là các khu chức năng cho tương lai của đô thị, được quy hoạch để xây dựng trong tương lai.
24 +Phân khu chức năng đô thị hiện hữu, là tên gọi các khu chức năng hiện trạng của đô thị hiện có. Phân khu để xác định giải pháp QH và quản lý cho từng khu. Loại phân khu này không được định nghĩa trong Luật QH đô thị, có mục tiêu để phục vụ quản l{ tương tự như quy hoạch PVQL 4. Quy hoạch định hướng và quy hoạch định vị.
Quy hoạch định hướng là loại quy hoạch trên bản đồ tỷ lệ lớn (1/5.000) xác định các hướng phát triển không gian, kinh tế - xã hội và môi trường chung của đô thị. Quy hoạch định hướng không có mốc giới trên thực địa. Quy hoạch định vị là loại quy hoạch trên bản đồ tỷ lệ nhỏ (1/2000 – 1/500), định vị và có thể cắm mốc giới trên thực địa. Quy hoạch định vị là căn cứ để cấp giấy phép xây dựng và giải quyết tranh tụng dân sự.
Quản lý đô thị là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước để tìm kiếm các nguồn lực và tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm thoả mản không ngừng các nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân dân trong sự hài hoà các lợi ích. Quản lý phát triển đô thị bao gồm quản lý quy hoạch và quản l{ đầu tư xây dựng cải tạo và phát triển đô thị theo quy hoạch và pháp luật. Quản lý phát triển đô thị còn được gọi là quản lý đô thị theo quy hoạch. Quản lý phát triển đô thị là một nội dung của quản l{ đô thị.
Cải tạo đô thị trong đề tài này là tên gọi chung cho các công việc :(1) Tái thiết đô thị, được hiểu là giải tỏa trắng một khu đô thị để xây dựng lại, (2) Chỉnh trang đô thị, được hiểu là đầu tư cải tạo từng bộ phận, cải thiện cảnh quan kiến trúc đô thi, bổ sung, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị, (3) Nâng cấp đô thị, được hiểu là cải thiện một phần về hạ tầng đô thị nhằm cải thiện điều kiện sống cho cư dân. Quản lý quy hoạch bao gồm quản lý việc lập (thiết kế, thẩm định, trình duyệt) quy hoạch và quản lý triển khai thực hiện quy hoạch. Quản lý quy hoạch là một nội dung của quản lý phát triển đô thị. Thẩm định quy hoạch là công việc của cấp thẩm quyền để đánh giá đồ án quy hoạch trước khi ra quyết định phê duyệt.
Luật QH đô thị không có định nghĩa về 25 thẩm định quy hoạch, tuy nhiên tại Điều 43 có quy định nội dung thẩm định nhiệm vụ quy hoạch và đồ án quy hoạch. Đánh giá quy hoạch bao gồm đánh giá đồ án quy hoạch, đánh giá tác động quy hoạch và đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch. + Đánh giá đồ án và nhiệm vụ quy hoạch là đánh giá sự phù hợp giữa các giải pháp của nhiệm vụ, đồ án quy hoạch với quy chuẩn, pháp luật, đường lối chính sách phát triển và thực tiễn đô thị. Đánh giá đồ án chính là nội dung của việc thẩm định quy hoạch theo Điều 43, luật Quy hoạch đô thị.
+ Đánh giá tác động quy hoạch là đánh giá ảnh hưởng của đồ án quy hoạch trong quá trình thực hiện đến nền kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân có liên quan. +Đánh gía kết quả thực hiện quy hoạch là khảo sát đánh giá hiện trạng đô thị sau kz quy hoạch, làm cơ sở cho việc điều chỉnh QH trong thời kz tiếp theo. Hoàn thiện đô thị là quá trình quy hoạch và thực hiện quy hoạch để biến một khu đô thị hiện hữu còn nhiều khiếm khuyết về cấu trúc đô thị thành khu đô thị đạt chuẩn về quy hoạch, kiến trúc đô thị.Tổng quan lý luận về quản lý phát triển đô thị 1. Vài nét về khoa học quản lý đô thị ở Việt Nam Công việc quản l{ đô thị gắn liền với quản l{ nhà nước từ khi có bản quy hoạch đô thị đầu tiên (từ 2500 năm trước).
Ở Nước ta, trước thời kz Đổi mới quản l{ đô thị chưa được coi là một lĩnh vực quản l{ riêng. Sau Đổi mới đã có một số giáo trình “quản l{ đô thị” như của TSKH Nguyễn Ngọc Châu [57], TS Phạm Trọng Mạnh [77], tuy nhiên nội dung QLĐT cũng chủ yếu mang tính kỹ thuật (nặng về quy hoạch và kỹ thuật đô thị), chưa đề cập nhiều đến vai trò của nhà nước pháp quyền. Trong khi đó, nghiên cứu về quản l{ đô thị trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và trong hoàn cảnh hội nhập với thế giới tư bản chủ nghĩa đã và đang là vấn đề thời sự hiện nay. Đã có nhiều cuộc hội nghị về đô thị, hội thảo về quản lý quy hoạch, về phát triển bền vững…trong đó có nhiều bài viết đề cập đến các khía cạnh liên quan đến quản lý phát triển đô thị.
Tại Hội thảo gần đây, do Hội QH và PT đô thị có nhiều tham luận về kinh nghiệm quản lý phát triển đô thị 26 quốc tế, ví dụ bài của Pgs. Kts Nguyễn Tố Lăng đã đúc kết công tác quản lý trên các lĩnh vực: (1) QL quy hoạch – kiến trúc đô thi, (2) QL đất đai XD đô thi, (3) Quản l{ GTCC, (4) QL môi trường đô thị, (5) QL nhà ở, (6) QL đô thị với sự tham gia của cộng đồng [66]. Có thể thấy sáu nội dung này chưa bao quát hết các nhiệm vụ quản l{ đô thị. Lý luận về QLĐT trong nền kinh tế thị trường được đúc kết một cách bao quát và hệ thống từ các hội nghị Đô thị toàn quốc, các đề tài nghiên cứu và các hội thảo khoa học về đô thị trong giáo trình “ Chính sách đô thị” (2006), được cập nhật và tái bản năm 2013, *126+.
Các cơ sở lý luận cơ bản về QLĐT trình bày sau đây về cơ bản trích dẫn từ nội dung tài liệu này. Quan điểm và mục tiêu quản lý đô thị trong cơ chế thị trường 1. Quan điểm Cơ sở lý luận của đề tài này là lý thuyết về quản lý đô thị theo mục tiêu và hiệu quả dựa trên ba quan điểm cơ bản sau : + Một là quan điểm về bản chất và vai trò của Nhà nước trong cơ chế thị trường (theo định hướng XHCN). Nhà nước là của dân, do dân, vì dân, có bản chất nhân đạo và không vụ lợi.
Về vai trò, theo quan điểm đổi mới từ trực tiếp quản l{ điều hành nền kinh tế - xã hội qua vai trò tạo điều kiện cho xã hội phát triển. Với vai trò đó của Nhà nước, chính quyền đô thị có bốn chức năng cơ bản là: 1/ Đảm bảo hạ tầng, 2/ Tạo điều kiện cho các thị trường, 3/ Bảo vệ môi trường, 4/ Chăm lo cho người nghèo. Để thực hiện các chức năng này, chính quyền thường sử dụng bốn biện pháp cơ bản là: (1) Chăm lo đảm bảo hạ tầng, (2) Kích thích, tạo điều kiện, (3) Ngăn cấm, là xây dựng hành lang pháp lý, (4) Cung cấp thông tin. Có thể thấy cả bốn nhiệm vụ chức năng và các biện pháp này đều liên quan đến quản lý quy hoạch.
+ Hai là quan điểm về quản lý phát triển đô thị trong cơ chế thị trường. Phát triển đô thị trong cơ chế thị trường gắn chặt với mô hình nhà nước pháp quyền, đề cao 27 ý thức thượng tôn pháp luật, quản lý bằng pháp luật, đồng thời bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Quan điểm quản l{ đô thị trong nền kinh tế thị trường cũng là cơ sở để lựa chọn các giải pháp quản lý quy hoạch phù hợp với quy luật của thị trường.