mở đầu thời c 6 kỳ quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp [90,tr. Theo lý thuyết trên thì việc phân chia đất đai theo địa lý với vùng sản xuất là nền tảng của quy hoạch vùng cho sản xuất lâm nông nghiệp. Tại Mỹ, bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai vào năm 1929, tiếp theo là xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscovin. Kế hoạch này đã xác định các diện tích cho sử dụng lâm nghiệp, nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí [79,tr.
Hạn chế của quy hoạch này là tạo việc khai thác rừng quảng canh, không kiểm soát lửa rừng và chống xói mòn. Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ. đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “Phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất” [77,tr. Đây cũng là tài liệu đầu tiên đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất.
Tại Đức, tác giả Haber năm 1972 đã xuất bản tài liệu “Khái niệm về sử dụng đất khác nhau”. Đây được coi là lý thuyết sinh thái về quy hoạch sử dụng đất dựa trên quan điểm về mối quan hệ hợp lý giữa tính đa dạng của hệ sinh thái cũng như sự ổn định của chúng với năng suất và khả năng điều chỉnh [86, tr. Từ năm 1967 Hội đồng nông nghiệp châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về Phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất. Các hội nghị đều khẳng định rằng quy hoạch các ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến loại nhỏ.
phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai [74,tr. Năm 1971 và 1975 các chuyên gia tư vấn họp tại Rome (Italia) và Geneve (Thụy Sỹ) để thảo luận về phương pháp luận quy hoạch nông thôn. Nội dung các cuộc thảo luận đã đề cập đến các phương pháp cùng tham gia trong quy hoạch cấp vĩ mô. Năm 1985 một nhóm chuyên gia tư vấn quốc tế về quy hoạch sử dụng đất được tổ chức FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình quy hoạch sử dụng c 7 đất.
Theo Purnell năm 1988, mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất đựợc các chuyên gia xác định là “Thiết lập các kế hoạch thực tiễn có khả năng sử dụng tốt nhất các loại đất đai nhằm đạt được các mục tiêu khác nhau để tăng sản xuất quốc gia, cải thiện đời sống, bảo vệ môi trường, đạt các lợi ích xã hội và giải trí”. Bốn câu hỏi nền tảng của quy hoạch đất đai là [81, tr.9-12]: Các vấn đề nào đang tồn tại và mục tiêu quy hoạch là gì? Có các phương án sử dụng đất nào? Phương án nào là tốt nhất? Có thể vận dụng vào thực tế như thế nào?. Wilkingson năm 1985 nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất theo khía cạnh luật pháp. Ông đề nghị “Một hệ thống luật pháp thích hợp cần được phát triển nhằm mục đích: cung cấp chính sách và mục tiêu rõ ràng của Nhà nước về đất đai, thiết lập các tổ chức sử dụng đất phù hợp, yêu cầu sử dụng theo quy trình kế hoạch và kỹ thuật, tăng cường sự thông hiểu về sử dụng đất và khuyến khích xây dựng cơ chế giám sát và cưỡng chế” [82, tr.
Năm 1988, Dent và nhiều tác giả nghiên cứu sâu về quy trình quy hoạch. Ông khái quát quy hoạch sử dụng đất trên 3 cấp khác nhau và mối quan hệ của các cấp: kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp vùng (tỉnh, huyện) cấp cộng đồng (xã, thôn) [72, tr. Ông còn đề xuất quá trình quy hoạch gồm 4 giai đoạn và 10 bước. Trong khi xây dựng khung đánh giá đất đai, lần đầu tiên tổ chức FAO năm 1976 đã đề xuất cấu trúc khung quy hoạch sử dụng đất với 10 điểm chính [73, tr.
Trong đó phân loại đánh giá và đề xuất các kiểu và dạng sử dụng đất được xét như là các bước chính trong quá trình quy hoạch. Năm 1980, Buchwald đề xuất quá trình quy hoạch 8 bước, trong đó những nghiên cứu đánh giá về sinh thái và kinh tế xã hội được đề cập tách biệt ở các bước khác nhau [84, tr. Điểm hạn chế này tạo nên sự thiếu tính liên ngành trong quy hoạch. Maydell năm 1984 cho rằng 4 điểm chính trong quá trình quy hoạch nông lâm nghiệp tại các nước nhiệt đới là [87, tr.
37]: phân tích xu c 8 hướng nghĩa là phân tích hiện trạng và phát triển; xác định mục tiêu và nhiệm vụ; phân tích phương pháp và tiến hành đánh giá. Xem xét đến các khía cạnh riêng, có thể dẫn ra đây một số quy trình quy hoạch được nhiều chương trình, dự án áp dụng. Theo Zimmermann năm 1989 tổ chức GTZ của Đức đưa ra và thử nghiệm quy trình quy hoạch tại nhiều nước, trong đó có dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà của Việt Nam. Quy trình này dựa trên quá trình phân tích tình hình, chuẩn đoán hiện trạng và phân tích mục tiêu.
Các kỹ thuật của phương pháp phân tích tối ưu hoá mục tiêu (ZOPP) được sử dụng [91, tr. Năm 1987, Spitzer đề xuất các bước quy hoạch sử dụng đất đa mục tiêu, trong đó nhấn mạnh xác định mục tiêu và chọn phương pháp lập kế hoạch như sau: Chuẩn đoán trong thu thập thông tin và dự đoán cơ hội, tư vấn trong đánh giá, lập kế hoạch và điều phối, thực hiện trong điều phối và giám sát[88, tr. Một vài kết luận rút ra từ kinh nghiệm của thế giới Tổng kết các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến quy hoạch lâm nông nghiệp và sử dụng đất cấp địa phương trên thế giới tác giả có một số kết luận phục vụ cho nghiên cứu quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã ở Việt Nam như sau: Mặc dù đã có những nghiên cứu đề xuất và thử nghiệm về quy hoạch sử dụng đất nhưng chưa có một lý thuyết hoàn chỉnh về quy hoạch lâm nông nghiệp cấp địa phương, đặc biệt là phương pháp quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cho cấp xã hoặc cấp hành chính thấp nhất tại các nước phát triển. Tuy vậy, những nghiên cứu và quy trình quy hoạch trên thế giới có thể được nghiên cứu và áp dụng trong điều kiện ở Việt Nam theo các hướng sau: - Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã phải lấy quy hoạch sử dụng đất làm nền tảng, kết hợp hài hoà giữa ưu tiên của cấp trên với nhu cầu của cộng đồng thông qua sự tham gia trực tiếp của người dân.
c 9 - Phân tích được mối quan hệ tác động lẫn nhau của các cấp quy hoạch lâm nông nghiệp, đặc biệt là cấp địa phương: xã, thôn bản và hộ gia đình để xác định rõ nội dung và phương pháp quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng có tính đặc thù riêng của mỗi cấp. - Các phương pháp đánh giá đất đai của FAO, quy trình lập kế hoạch sử dụng đất cần được áp dụng trong quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã, nhưng đòi hỏi phải điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh của cộng đồng nông thôn Việt Nam. - Phương pháp cùng tham gia, phân tích hệ thống canh tác được coi là công cụ quy hoạch cấp xã cần được vận dụng vào đặc điểm kinh tế văn hoá xã hội và thể chế chính sách của Việt Nam. Việt Nam Đảng và Nhà nước có quan điểm rõ ràng về quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp.
Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Luật đất đai năm 2003 tại điều 13 quy định rõ có 3 loại đất chính, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng với 6 quyền sử dụng tuỳ theo từng loại đất và mục đích sử dụng mà được giao cho tổ chức, cá nhân quản lý và sử dụng. Luật đất đai nêu rõ trong mục 2 quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại điều 23 là lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai là một trong những nội dung quản lý Nhà nước đối với đất đai [18].
Luật Đất đai là cơ sở pháp lý cơ bản nhất cho quy hoạch nông lâm nghiệp. Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 phân định rõ 3 loại rừng làm cơ sở cho quy hoạch lâm nghiệp [19]. Theo biên bản hội thảo quốc gia về “Quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp” năm 1997 nhiều ý kiến cho rằng cần nghiên cứu tính thống nhất giữa c 10 2 luật: Luật đất đai và Luật bảo vệ và phát triển rừng trong quy hoạch và giao đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp, xác định rõ vai trò của địa phương, đặc biệt là cấp xã trong quy hoạch và giao đất giao rừng [2]. Trong Nghị định 64/CP, điều 15 có nêu một số quyền hạn của cấp xã trong sử dụng đất công ích [36], trong khi văn bản quan trọng nhất về giao đất lâm nghiệp là Nghị định 02/CP lại ít đề cập đến vai trò của cấp xã [37].
Nghị định của Chính phủ số 163/1999/NĐ-CP ra ngày 16 tháng 11 năm 1999 về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp có một số điều nói tới nhiệm vụ và quyền hạn cấp xã trong quy hoạch và giao đất lâm nghiệp [40]. Nghị định 01/CP xác định vai trò cấp xã như là cơ quan Nhà nước chứng nhận các hộ nông dân để được nhận khoán đất (điều 3 mục 3) [38]. Như vậy, Đảng và Nhà nước đã chú trọng đến quy hoạch nông lâm nghiệp cấp địa phương, coi quy hoạch sử dụng đất là cơ sở nền tảng cho các quy hoạch khác và là cơ sở cho giao đất, lập kế hoạch sử dụng đất, xây dựng các dự án phát triển. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có các quy định cụ thể về quy hoạch lâm nông nghiệp cấp địa phương, đặc biệt là cấp xã.
Những điểm liên quan đến quy hoạch lâm nông nghiệp cấp xã chưa được thống nhất. Trên thực tế cấp xã mới có định hướng và mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp. Ngay cả khi xây dựng định hướng phát triển kinh tế - xã hội và sản xuất cũng gặp một số khó khăn khi vận dụng những chính sách có liên quan.