Chương 1 — Cơ sở lý thuyết về quản trị lợi nhuận và các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các Công ty niêm yết. Chương 2 — Khảo sát hành vi quản trị lợi nhuận có ảnh hưởng tới gian lận báo cáo tài chính qua áp dung các thủ tục kiểm toán. Chương 3 - Kết luận và hàm ý chính sách. CHUONG 1: CO SO LY THUYET VE QUAN TRI LOINHUAN VA CAC THU TUC KIEM TOAN NHAM PHAT HIEN GIAN LAN TRONG BAO CAO TAI CHINH CUA CAC CONG TY NIEM YET 1.
Khái quát chung quan tri lợi nhuận (QTLN) Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản chênh lệch giữa các khoản doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác. Bên cạnh đó, Chế độ kế toán hiện hành quy định kế toán doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở dồn tích (ghi nhận tại thời điểm phát sinh bất kê đã thực thu, chỉ bằng tiền hay chưa). Tuy nhiên, Chế đô kế toán cũng đưa ra quyền lưa chọn một số phương pháp kế toán hay ước tính kế toán cho doanh nghiệp lựa chọn khi ghi nhận doanh thu và chi phi. Vi thế, nhà quản lý có thể vận dụng điểm này để có những tác động nhằm thay đôi thông tin lợi nhuận trên BCTC.
Khái niệm về quản trị lợi nhuận Đã có nhiều nghiên cứu đưa ra khải niệm về QTLN, trong đó Schipper (1989) cho rằng QTLN là sự điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra trước đó của nhà quản trị. Nó là “một sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân”. Levift (1998) định nghĩa “QTLN là một mảng mà ở đó, kế toán dang bi lam sai do nha quan tri đã “cắt gọt” các khía cạnh của nó. Khi đó, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh mong muốn của nhà quản trị hơn là phản ánh tình hình tài chính thực của đoanh nghiệp”.
Quan điểm này có phần nhấn mạnh thái quá phần tiêu cực của QTLN nên đã được thay thé dan bởi quan điểm toàn diện hơn của Healy và Wahlen (1999), cho rằng “QTLN xảy ra khi nhà quản trị sử dụng các ước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ dé tác đông đến BCTC, nhằm làm cho các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC hiểu sai về tỉnh hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc làm ảnh hưởng đến các hợp đồng mà có cam kết dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận kế toán (ví dụ: hợp đồng tín dụng với ngân hàng, hợp đồng thù lao giữa nhà quản trị và công ty. Nhìn chung, có nhiều quan điểm khác nhau về hành vi QTLN dựa trên cách nhìn nhận về đặc điểm cũng như cách thức thực hiện, nhưng có thể tóm lại: QTLN là một thuật ngữ tài chính đề cập đến các hành động của nha quan tri tac động đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp được thể hiện trong BCTC, tạo ra một hình ảnh tài chính doanh nghiệp như nhà quản lý mong muốn. QTLN có thé khiến các nhà đầu tư hiểu sai về tình hình tải chính thực tế của công ty. Nhà quản trị có nhiều mục đích để thực hiện QTLN, có thể là để thu nhiều lợi nhuận thông qua giao dịch trên thị trường vốn, hoặc dé giảm thiêu chi phí trong việc phát hành cổ phiêu, mua bán sáp nhập.
Về mặt lý thuyết, hành vi QTLN không được xem là vi pham pháp luật, bởi đây là một hình thức được chấp nhân trong kế toán, nhà quản lý áp dụng những nguyên lý được cho phép nhằm hạch toán các khoản chỉ phí, lợi nhuận, thường thì các bút toán này vận dụng nguyên tắc dồn tích, hay các cách khác nhau trong quá trình khấu hao tài sản. Tuy không bị luật giới hạn, nhưng đây lại là hành vi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của phan lớn nhà đầu tư, và khi công ty gặp vấn đề về khả năng thanh toán, thường dẫn đến khoản thâm hụt lớn. Phân loại hành vi quản trị lợi nhuận Theo nghiên cứu của Miloud (2014) thì hành vi QTLN có thể được phân thành 2 nhóm dựa vào cách thức thực hiện, bao gồm: - QTLN dưa trên cơ sở dồn tích (Accrual based Earnings Management - AEM) được Gordon (1964) định nghĩa là cách thực hiện hành vi QTLN thông qua sự linh hoạt trong việc lựa chọn các chính sách kế toán và ước tính kế toán được chấp nhận bởi các quy định về kế toán. Ví dụ như: nhà quản lý vận dụng và thay đổi chính sách đự phòng, khấu hao, phương pháp xuất kho.
- QTLN dựa trên các hoạt đông kinh doanh thực tế (Real Earnings Management — REM) la viéc nha quản lý tác động vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thay đổi mức độ hoạt động của doanh nghiệp hướng đến mục đích điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp theo như mong muốn, nhằm làm các bên liên quan hiểu lầm về các mục tiêu BCTC đã đạt được trong quá trình hoạt động bình 10 thường của doanh nghiép (Roychowdhury, 2006). Vi du: nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận nào đó, nhà quân lý thay đổi mức hoạt động tối ưu như đưa ra các chính sách chiết khẩu hoặc nới lỏng thời hạn thanh toán dé tăng doanh thu, giảm chỉ phí nghiên cứu phát triển hoặc thực hiện sản xuất thái quá vào thời điểm cuối năm làm tăng hang tồn kho, giảm giá vốn, tăng lợi nhuận cho năm hiện tại. Động cơ dẫn đến hành vi Quản trị lợi nhuận Trong một doanh nghiệp, nhà quản trị là người nắm rõ hình hình hoạt động của công ty và các cơ hội kinh doanh trong tương lai của công ty hơn so với các đối tượng bên ngoài, vì thế việc lựa chọn chính sách kế toán hay các ước tính kế toán nằm trong pham vi cho phép nhằm duy trì sư ổn định của công ty là rất cần thiết. Tuy nhiên, nha quản trị cũng có thé tận dụng việc ghi nhận kế toán dựa trên cơ sở đồn tích để làm thay đổi mức lợi nhuận nhằm đạt mục tiêu mong muốn.
Nhiều nghiên cứu trước đây đã đưa ra các động cơ thúc đây nhà quản trị thực hiện hành vi QTLN. Healy (1985) tìm thấy bằng chứng về việc sử dụng các khoản dồn tích đề tối đa hóa các khoản thưởng. Watts và Zimmerman (1990) cho rằng các nhà quản lý có động lực để điều chỉnh lợi nhuận từ tương lai về kỳ kế toán hiện tại khi có kế hoạch thưởng cho nhà quản lý dựa trên kết quả lợi nhuận. Healy và Wahlen (1999) cho rằng có ba động lực chính dẫn đến hành vi QTLN, gồm: kỳ vọng thị trường vốn.
các hợp đồng bằng văn bản được ký kết, mà các thỏa thuận trong hợp đồng này có liên quan đến số liệu số sách kế toán và phản ứng lại các quy định của chính phủ. Burgstahler và Eames (2006) nghiên cứu vai trò của thị trường vốn và phát hiện ra rằng hành vi QTLN cảng tăng khi cần đáp ứng những kỳ vọng của các nhà phân tích và những dự báo trong quản lý. có nhiều nguyên nhân được tìm thay dẫn đến thúc đây nhà quan lý thực hiện hành vi QTLN. Ở đây, tác giả khái quát một số động cơ điều chỉnh lợi nhuận phổ biến như sau: Hợp đồng quản lý — thù lao: Trong thực tế, các doanh nghiệp niêm yết có thỏa thuận trả lương hoặc thưởng cho nhà quản lý theo tỷ lệ % nhân với (x) lợi ll nhuận kế toán.
Theo quan điểm của lý thuyết ủy nhiệm thì nhà quản lý có xu hướng hành động để tối đa hóa lợi ích cá nhân của mình hơn là vì lợi ích của bên ủy nhiệm. Khi hợp đồng thù lao dựa trên các chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh đoanh như doanh thu hoặc lợi nhuận sẽ thúc đây nhà quản lý thực hiện hành vi QTLN. Như vậy, nhà quản lý có động cơ QTLN khi kết quả kinh doanh đạt được khác với mục tiêu để ra của nhà quản lý. Lợi nhuận thực có thể quá cao hoặc quá thấp, còn mục tiêu của nhà quản lý thì được xác định trên cơ sở kỳ vọng của các cổ động hoặc yêu cầu đòi hỏi của hợp đồng quản lý đã ký kết.
Trường hợp lợi nhuân thực thấp hơn mục tiêu đẻ ra, nhà quản lý có thể thực hiện điều chỉnh tăng lợi nhuận thông qua cách điều chỉnh lợi nhuận từ tương lai về kỳ kế toán hiện hành (Watts và Zimerman, 1990), hoặc sử dụng xét đoán trong kế toán để tăng lợi nhuận nhằm đạt được khoản tiền thưởng theo lợi nhuận (Healy, 1985). Trường hợp khi hợp đồng thù lao giữa doanh nghiệp và nhà quan lý có quy định giới han mức thưởng tối đa khi kết quả quả kinh doanh đã đạt được mục tiêu đề ra, thi nha quan ly sẽ có khuynh hướng điều chuyển bớt lợi nhuận năm nay sang nam sau. Mục tiêu thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài: Lợi nhuận luôn là chỉ tiêu quan trọng dé nha đầu tư đánh giá khả năng sinh lợi trong tương lai của một công ty. Lợi nhuận ảnh hưởng trực tiếp đền giá cô phiếu và ảnh hưởng gián tiếp tới thị trường vốn khi mà chỉ tiêu lợi nhuận dùng để xác định dòng tiền trong tương lai.
Do vậy, khi phát hành cô phiếu ra công chúng, nhà quản lý của công ty nỗ lực đưa ra hình ảnh kết quả hoạt động kinh doanh tốt trong năm vừa qua thông qua việc điều chỉnh tăng lợi nhuận đến mức tối đa (trong khuôn khô cho phép của chế đô kế toán. chuân mực kế toán hiện hành) nhằm thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà đầu tư cũng như là có thể bán được cô phiếu ở mức giá cao. Hành vi QTLN thường xuyên xảy ra trong trường hợp công ty lần đầu tiên chào bán cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán. Ở thời diém này, lượng thông tin mà các nhà đầu tư tiếp nhận còn nhiều giới hạn, làm xuất hiện hiện tượng thông tin 12 bat cân xứng giữa công ty và các nhà đầu tư tiềm năng, gây tác động tiêu cực đến thị trường.
Trong thời gian được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, nếu lợi nhuận của công ty thay đổi quá lớn giữa các kỳ kế toán đồng nghĩa với tình hình hoạt đông kinh doanh của công ty bất ổn, nhà đầu tư mua cô phiếu của doanh nghiệp đó sẽ chịu mức rủi ro cao. Giá cổ phiếu của công ty này sẽ bị rớt giá so với các công ty có lợi nhuận ổn định qua các kỳ.