Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu Khái quát chung về đề tài nghiên cứu như lý do nghiên cứu, xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Giới thiệu phạm vi, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Đồng thời, trình bày ý nghĩa của nghiên cứu. 3 Lý Minh Đại MFB6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu Trình bày tóm tắt các lý thuyết chính có liên quan đến nghiên cứu.
Khái quát các nghiên cứu đã được thực hiện trước đó và các kết quả đã đạt được. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu Giới thiệu các khái niệm, chi tiết phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu mà đề tài này thực hiện. Trình bày giả thuyết nghiên cứu cần kiểm định. Nêu rõ nguồn dữ liệu và cách thức xử lý dữ liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày các kết quả nghiên cứu mà đề tài này đã thực hiện. Đồng thời, giới thiệu các phát hiện khác có liên quan, nếu có. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Trình bày tổng quát các kết quả mà đề tài đạt được va đưa ra các khuyến nghị cho các đối tượng có liên quan. Đồng thời, trình bày các giới hạn của nghiên cứu và đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo.
Tài liệu tham khảo Liệt kê các tài liệu mà đề tài đã sử dụng để tham khảo cho việc nghiên cứu. 4 Lý Minh Đại MFB6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU Trong chương này, các vấn đề chủ yếu sau đây sẽ được trình bày. Trước hết, các lý thuyết đặt nền tảng cho nghiên cứu này, cụ thể là lý thuyết Modigliani và Miller (1958 và 1963), sẽ được trình bày. Tiếp đó là lý thuyết chính mà nghiên cứu này cần kiểm định tại Việt Nam, lý thuyết của DeAngelo và Masulis (1980) và Masulis (1983).
Sau cùng là tóm tắt các nghiên cứu đã được thực hiện trước đó có liên quan đến mục tiêu của nghiên cứu này. Lý thuyết của Modigliani và Miller (1958) – Lý thuyết M & M Modigliani và Miller (1958) đã đề xuất lý thuyết về vay nợ của công ty dựa trên các giả định sau đây: (i) không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân; (ii) không có chi phí giao dịch; (iii) không có chi phí phá sản và chi phí khốn khó tài chính, (iv) cá nhân và công ty có thể vay tiền ở mức lãi suất như nhau, và (v) thị trường vốn là thị trường hoàn hảo. Trong trường hợp không có thuế, thì lý thuyết M&M được khái quát như sau. Giá trị của công ty có vay nợ bằng với giá trị của công ty không có vay nợ hay nói cách khác là việc có vay nợ hay không không ảnh hưởng đến giá trị của công ty.
Do đó, không tồn tại cơ cấu vốn tối ưu, công ty không thể gia tăng giá trị bằng cách thay đổi cơ cấu vốn. Trong trường hợp có thuế, tức là công ty sẽ phải nộp thuế thu nhập cho phần lợi nhuận công ty kiếm được từ hoạt động kinh doanh. Lúc này lý thuyết M&M được khái quát như sau, trong trường hợp có thuế thu nhập công ty thì giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị công ty không có vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế. Như vậy, trong trường hợp này, một công ty có muốn gia tăng giá trị của mình thì có thể gia tăng vay nợ.
Do khi vay nợ, công ty sẽ tiết kiệm được một khoản thuế phải nộp, chính khoản thuế này làm cho giá trị của công ty tăng 5 Lý Minh Đại MFB6 lên. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu công ty có gia tăng nợ mãi mãi được không hay có một giới hạn vay nợ nào đó mà công ty vượt qua sẽ phải đối diện với nguy cơ phá sản ngày càng lớn. Do trong các giả định của mình, Modigliani và Miller (1958) đã bỏ qua chi phí phá sản và chi phí khốn khó tài chính. Khi công ty gia tăng vay nợ thì làm phát sinh chi phí khốn khó tài chính, chính chi phí này làm giảm sự gia tăng giá trị công ty có vay nợ.
Đến một điểm nào đó của tỷ lệ vay nợ, chi phí khốn khó tài chính sẽ vượt qua lợi ích của lá chắn thuế mang lại. Khi đó, giá trị công ty có vay nợ sẽ bắt đầu giảm dần. Như vậy, sẽ tồn tại một tỷ lệ vay nợ mà tại đó giá trị công ty sẽ là lớn nhất, gọi là tỷ lệ vay nợ tối ưu. Lý thuyết của Modigliani và Miller (1963) – Lý thuyết M&M mở rộng Từ mối quan hệ giữa thuế thu nhập công ty và chi phí vốn, Modigliani và Miller (1963) bằng các mô hình toán học đã chứng minh rằng có sự tồn tại lợi ích của lá chắn thuế từ nợ vay.
Kết quả này đã giúp củng cố lý thuyết M&M về một tỷ lệ nợ vay tối ưu giúp công ty đạt tới giá trị tối ưu nhất. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các công ty nên luôn luôn duy trì mức vay nợ tối đa trong cấu trúc vốn của mình. Bởi vì, có những hình thức tài trợ khác có thể vẫn rẻ hơn vay nợ. Mặt khác, không phải nhà cho vay nào cũng đủ khả năng đáp ứng hoàn toàn nhu cầu vốn của công ty, cũng như nhiều vấn đề khác trên thị trường tài chính (như chi phí vốn) tác động đến chiến lược tài chính của công ty nhằm đạt được tỷ lệ vay nợ tối ưu.
Lý thuyết của DeAngelo và Masulis (1980) và Masulis (1983) DeAngelo và Masulis (1980) chứng minh rằng có tồn tại lợi ích lá chắn thuế không từ vay nợ như khấu hao, các khoản tiết kiệm thuế có được do gia tăng đầu tư. Chính các lợi ích này góp phần tiết kiệm được lãi vay mà công ty phải trả. Điều này tạo cơ hội cho công ty gia tăng thêm vay nợ để tăng lợi ích lá chắn thuế từ vay nợ để gia tăng giá trị công ty. Mặt khác, mức thuế suất của từng ngành là khác nhau, dẫn đến lợi ích lá chắn thuế từ nợ vay của từng ngành cũng khác nhau 6 Lý Minh Đại MFB6 với cùng một mức nợ vay.
Vì vậy, mỗi ngành sẽ tồn tại một tỷ lệ vay nợ tối ưu do mức thuế suất của mỗi ngành khác nhau mang lại. Lợi ích lá chắn thuế không từ vay nợ cùng với mức thuế suất khác nhau của từng ngành; hàm ý rằng mỗi công ty sẽ có được một lựa chọn duy nhất về tỷ lệ vay nợ tối ưu. Dần dần, trong quá trình hoạt động, do đặc điểm chung của các công ty cùng ngành nên tỷ lệ vay nợ tối ưu của các công ty trong ngành sẽ tiến tới mức tỷ lệ vay nợ trung bình của ngành. Nếu α*>b thì công ty có thể tăng giá trị của mình bằng cách tăng tỷ lệ vay nợ, nếu α*<b thì công ty có thể tăng giá trị của mình bằng cách giảm tỷ lệ vay nợ.
Các nghiên cứu trước Rất nhiều nghiên cứu có liên quan đến mối quan hệ giữa tỷ lệ vay nợ tối ưu và hiệu quả hoạt động của công ty được thực hiện trên phạm vi toàn thế giới. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu tiêu biểu cũng được thực hiện trên nền tảng của các lý thuyết kinh tế tài chính cơ bản và các nghiên cứu định lượng có liên quan. Một số nghiên cứu tiêu biểu, có liên quan trực tiếp đến nghiên cứu này sẽ được tóm lược trong nghiên cứu này. Nghiên cứu của Võ Hồng Đức và Võ Tường Luân (2014) đo lường tác động ngưỡng của tỷ lệ vay nợ đến khả năng sinh lời của công ty và đề xuất tỷ lệ vay nợ tối ưu để duy trì khả năng sinh lời của công ty.
Nghiên cứu được thực hiện với dữ liệu của 191 công ty niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán TP.HCM (HOSE) và Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội (HNX) trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2012. Kỹ thuật hồi quy ngưỡng được sử dụng để ước lượng và kiểm định tỷ lệ vay nợ tối ưu tác động đến khả năng sinh lời của công ty. 7 Lý Minh Đại MFB6 Kết quả của nghiên cứu cho thấy có tồn tại hai ngưỡng về tỷ lệ vay nợ mà có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của công ty. Theo đó, hai ngưỡng về tỷ lệ vay nợ (tổng nợ trên tổng tài sản) là 56,67% và 69,72%.
Khi công ty có tỷ lệ vay nợ nhỏ hơn mức 56,67%, nếu công ty tăng vay nợ thì khả năng sinh lời của công ty sẽ tăng lên. Khi công ty có tỷ lệ vay nợ trong khoảng từ lớn hơn 56,67% đến nhỏ hơn 69,72%, nếu công ty tăng vay nợ thì khả năng sinh lời của công ty sẽ giảm. Khi công ty có tỷ lệ vay nợ lớn hơn 69,72%, nếu công ty tiếp tục tăng vay nợ thì khả năng sinh lời của công ty sẽ càng giảm mạnh hơn. Trong nghiên cứu của mình, Hatfield và cộng sự (1994) đã tiến hành thực hiện nhằm kiểm định lại lý thuyết của DeAngelo và Masulis (1980) và Masulis (1983) trên thị trường Hoa Kỳ; với bộ dữ liệu là 183 công ty có thông báo phát hành nợ và thật sự làm tăng tỷ lệ vay nợ của công ty sau mỗi lần phát hành.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu trong thời gian từ năm 1982 đến năm 1986 với phương pháp nghiên cứu sự kiện. Mục tiêu chính là khảo sát sự tồn tại của lợi nhuận bất thường (abnormal return) trong vòng trước sau 90 ngày kể từ ngày công ty công bố phát hành nợ. Giả thuyết của nghiên cứu là thị trường sẽ phản ứng tích cực khi các công ty có tỷ lệ vay nợ thấp hơn tỷ lệ vay nợ trung bình ngành gia tăng vay nợ. Theo DeAngelo và Masulis (1980), tỷ lệ vay nợ trung bình ngành sẽ là tỷ lệ vay nợ tối ưu của công ty trong ngành.
Khi công ty đạt được tỷ lệ vay nợ tối ưu thì giá trị công ty cũng sẽ tối ưu. Lúc đó thị trường sẽ phản ứng tích cực thông qua việc giá cổ phiếu sẽ tăng. Ngược lại, thị trường sẽ phản ứng tiêu cực khi các công ty có tỷ lệ vay nợ cao hơn tỷ lệ vay nợ trung bình ngành gia tăng vay nợ. Vì khi đó, tỷ lệ vay nợ sẽ không còn tối ưu và giá trị công ty sẽ giảm.
Thị trường sẽ phản ứng tiêu cực thông qua việc giá cổ phiếu sẽ giảm. Bên cạnh đó Hatfield và cộng sự (1994) cũng đồng thời kiểm định bằng thực nghiệm kết quả nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976) và Jensen (1986). Theo đó, việc các công ty có tốc độ tăng trưởng thấp phát hành nợ sẽ tạo phản ứng tích cực trên thị trường.