Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống thủy nông Cầu Sơn - Cấm Sơn đóng vai trò huyết mạch trong việc bảo đảm an ninh lương thực và phát triển kinh tế nông nghiệp cho 4 huyện thị và 1 thành phố thuộc tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn. Vùng nghiên cứu có tổng diện tích tự nhiên đạt 56.096 ha, trong đó quy mô đất canh tác nông nghiệp chiếm 24.257 ha. Mặc dù diện tích thiết kế phục vụ tưới của toàn hệ thống lên tới 23.294 ha, nhưng trên thực tế công trình mới chỉ đáp ứng tưới cho khoảng 11.595 ha đất canh tác, tương đương hiệu suất khai thác khiêm tốn ở mức 49,8%. Thực trạng này xuất phát từ sự biến động khắc nghiệt của khí hậu khi lượng mưa hàng năm từ 1.252 mm đến 1.558 mm phân bố rất không đồng đều, với 80% đến 85% tập trung vào mùa mưa lũ và chỉ 15% đến 20% rơi vào mùa khô kiệt kéo dài 8 tháng.

Vấn đề cốt lõi hiện nay là phương thức vận hành hệ thống bậc thang gồm hồ chứa Cấm Sơn với dung tích hữu ích 227,7 triệu m3 và đập dâng Cầu Sơn vẫn mang nặng tính kinh nghiệm chủ quan của người quản lý, thiếu luận cứ khoa học định lượng. Mục tiêu cụ thể của luận văn là nghiên cứu thiết lập cơ sở khoa học và ứng dụng các công cụ toán học hiện đại nhằm xây dựng quy trình quản lý vận hành tưới tối ưu trong điều kiện hạn chế nguồn nước, hướng tới tối đa hóa giá trị sản xuất nông nghiệp trên toàn bộ khu tưới. Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc, giúp giảm thiểu từ 15% đến 20% lượng nước thất thoát, bảo đảm chủ động nguồn nước tưới cho hơn 22.000 ha gieo trồng hàng năm và nâng cao hiệu quả kinh tế bền vững cho hơn 554.900 người dân trong lưu vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý thuyết nghiên cứu vận hành và lý thuyết quy hoạch tối ưu hóa hệ thống tài nguyên nước để giải quyết bài toán điều tiết liên hoàn giữa hồ chứa thượng lưu và đập dâng hạ lưu. Cấu trúc mô hình toán học được xây dựng dựa trên hàm mục tiêu tối đa hóa tổng lợi ích kinh tế thu được từ năng suất cây trồng trên toàn bộ các khu tưới, kết hợp chặt chẽ với hệ thống các hàm ràng buộc thủy lực, phương trình cân bằng dung tích hồ chứa Cấm Sơn và khả năng chuyển tải tối đa qua hệ thống kênh phân phối.

Để xác định chính xác nhu cầu dùng nước thực tế tại mặt ruộng, nghiên cứu áp dụng khung lý thuyết cân bằng nước mặt ruộng theo hướng dẫn chuẩn mực của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc FAO. Các khái niệm then chốt được lượng hóa bao gồm lượng bốc thoát hơi nước tiềm năng, hệ số cây trồng và lượng bốc thoát hơi nước thực tế. Công thức Penman cải tiến năm 1992 được lựa chọn làm nền tảng tính toán nhờ độ nhạy cao và khả năng bao quát đồng thời các thông số vi khí hậu như nhiệt độ trung bình, bức xạ mặt trời, áp suất hơi nước bão hòa, tốc độ gió ở độ cao chuẩn 2 m và độ ẩm không khí trung bình 82%.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp đồng bộ từ chuỗi quan trắc khí tượng thủy văn nhiều năm tại các trạm Hữu Lũng, Bắc Giang, Yên Thế, Chũ cùng tài liệu điều tra thực địa về thông số kỹ thuật công trình từ Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi Cầu Sơn. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn diện trên 5 tuyến kênh chính cấp 1 với tổng chiều dài hơn 87,2 km, 110 tuyến kênh cấp 2, 22 cụm thủy nông và khảo sát chuyên sâu tại 2 khu tưới mẫu điển hình là kênh Y2 dài 11,8 km và kênh Núi Sui dài 8,0 km.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp điển hình hóa được áp dụng nhằm phản ánh đầy đủ đặc điểm của các tiểu vùng địa hình bán sơn địa và đồng bằng trũng kẹp giữa hai con sông lớn là sông Thương và sông Lục Nam. Luận văn sử dụng phương pháp mô hình hóa và tối ưu hóa toán học thông qua phần mềm chuyên dụng GAMS kết hợp chương trình tính nhu cầu nước IRR_2006. Lý do lựa chọn tổ hợp công cụ này là khả năng giải quyết triệt để bài toán quy hoạch toán học đa biến, xử lý linh hoạt các quan hệ phi tuyến phức tạp trong cơ chế đóng mở cống điều tiết và tính toán phân bổ nước đa mục tiêu theo từng thời đoạn 10 ngày trong suốt vụ canh tác.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự thiếu hụt nước nghiêm trọng trong mùa khô do sự mất cân đối cục bộ giữa nguồn cung và cầu. Vào các tháng mùa kiệt từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, tổng lượng dòng chảy tự nhiên trên sông chỉ chiếm 20% đến 25% dòng chảy năm, trong khi mô đun dòng chảy kiệt nhỏ nhất rơi xuống mức dưới 1,0 l/s/km2. Hệ thống đập Cầu Sơn thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu nước xả bổ cập từ hồ Cấm Sơn nếu không có kế hoạch điều tiết trữ - xả chủ động ngay từ đầu vụ đông xuân.

Thứ hai, kết quả tính toán nhu cầu dùng nước cho thấy cơ cấu cây trồng đóng vai trò quyết định đến tổng lượng nước tiêu thụ. Với tổng diện tích gieo trồng hàng năm đạt 53.500 ha (gồm 14.000 ha lúa chiêm, 17.500 ha lúa mùa và 22.000 ha cây màu), hệ số sử dụng đất đạt mức 2,34 lần. Nhu cầu lưu lượng nước đỉnh điểm tại cống đầu mối Cầu Sơn lên tới 30 m3/s, đòi hỏi cống Quan Hiển Giữa phải phân phối 6,3 m3/s, cống Quan Hiển Đông 11,5 m3/s và cống Quan Hiển Tây 2,81 m3/s mới đáp ứng đủ lượng nước tưới mặt ruộng.

Thứ ba, hiệu quả chuyển tải nước trên các tuyến kênh phân phối sụt giảm nghiêm trọng theo chiều dài địa lý. Kênh Giữa dài 31 km chỉ tưới thực tế được 4.829,4 ha so với 8.255 ha thiết kế (đạt 58,5%), kênh Đông Yên Lại dài 25 km chỉ đạt 2.967,3 ha so với 6.840 ha thiết kế (đạt 43,4%), và trạm bơm Bảo Sơn phục vụ kênh Bảo Sơn 12,31 km chỉ đạt 4.102,6 ha. Sự suy giảm năng lực tải nước chủ yếu do tình trạng bồi lắng lòng kênh và thiếu hụt các công trình điều tiết kiểm soát mực nước tại các vị trí xung yếu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến nghịch lý thiếu nước dù có hồ chứa dung tích lớn là sự phối hợp vận hành giữa hồ Cấm Sơn và đập Cầu Sơn chưa được tối ưu hóa theo chuỗi thời gian thực. Hệ thống kênh cấp 2 và kênh nội đồng phần lớn vẫn là kênh đất, dẫn đến tỷ lệ tổn thất nước ngấm và bốc hơi lên tới hơn 30% tổng lượng nước cấp.

Khi so sánh với các quy trình vận hành truyền thống dựa trên kinh nghiệm, phương án vận hành tối ưu xây dựng trên phần mềm GAMS giúp tiết kiệm từ 12% đến 18% tổng lượng nước xả từ hồ Cấm Sơn, đồng thời nâng cao độ tin cậy cấp nước cho các khu vực khó khăn ở cuối kênh Giữa và kênh Yên Lại thêm 22%. Toàn bộ dữ liệu vận hành được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ tương quan dung tích - mực nước Z~W hồ Cấm Sơn, biểu đồ lưu lượng đến - xả - mực nước hồ và bảng phân phối lưu lượng chi tiết cho từng đoạn kênh theo từng thời đoạn 10 ngày, tạo công cụ trực quan hỗ trợ đắc lực cho đội ngũ kỹ sư điều hành hệ thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, áp dụng ngay mô hình toán tối ưu hóa phân phối nước dựa trên nền tảng phần mềm GAMS và IRR_2006 vào quy trình vận hành thường niên tại Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi Cầu Sơn. Mục tiêu đến năm 2015 giảm thiểu 15% đến 20% lượng nước xả thừa không hữu ích và bảo đảm cấp nước đúng thời điểm sinh trưởng nhạy cảm của cây trồng.

Thứ hai, thực hiện kiên cố hóa đồng bộ hệ thống kênh mương, ưu tiên sửa chữa triệt để các đoạn xung yếu trên kênh chính Bảo Sơn dài 12,31 km, nâng cấp cầu máng Cầu Mè và bổ sung cống điều tiết tại ngã tư Tổ Rồng trên kênh Giữa. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bắc Giang cần bố trí nguồn vốn đầu tư hoàn thành trước năm 2020 nhằm nâng hiệu suất dẫn nước toàn hệ thống đạt trên 80%.

Thứ ba, tái cơ cấu và củng cố các tổ chức quản lý thủy nông cơ sở, chuyển đổi mô hình quản lý phân tán tại 22 xã thuộc huyện Lục Nam và Yên Dũng sang mô hình Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp thống nhất. Thời gian hoàn thành trong vòng 24 tháng nhằm chuẩn hóa công tác ký kết hợp đồng dùng nước và kiểm soát hiệu quả việc dong ép nước mặt ruộng.

Thứ tư, lắp đặt hệ thống tự động hóa giám sát mực nước và đo lưu lượng SCADA tại đập Cầu Sơn, hồ Cấm Sơn cùng các cống đầu kênh cấp 1. Giai đoạn triển khai từ năm 2018 đến năm 2020 do Công ty Thủy nông chủ trì, hướng tới tự động hóa thu thập dữ liệu thủy văn với độ chính xác đạt trên 95%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các kỹ sư thủy lợi, cán bộ kỹ thuật và ban lãnh đạo tại các Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi, đặc biệt là các đơn vị đang quản lý hệ thống thủy nông liên hoàn hồ chứa kết hợp đập dâng. Nghiên cứu cung cấp tài liệu hướng dẫn quy trình vận hành phân phối nước chi tiết và phương pháp xây dựng kịch bản điều tiết trong điều kiện khô hạn.

Nhóm thứ hai là các chuyên viên hoạch định chính sách tại Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Thủy lợi các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học vững chắc để phê duyệt quy hoạch tưới tiêu, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và phân bổ nguồn vốn tu bổ công trình thủy lợi hợp lý.

Nhóm thứ ba là các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước, Kỹ thuật Tài nguyên nước. Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng phần mềm GAMS và mô hình Penman cải tiến trong tối ưu hóa hệ thống tài nguyên nước.

Nhóm thứ tư là các tổ chức tư vấn phát triển nông nghiệp và các trung tâm hỗ trợ quản lý tưới có sự tham gia của người dân (PIM). Tài liệu mang đến case-study thực tế về đánh giá năng lực thể chế quản lý thủy nông mặt ruộng tại địa bàn 50 xã phường thuộc tỉnh Bắc Giang.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao hệ thống Cầu Sơn - Cấm Sơn chỉ đạt 49,8% diện tích tưới so với thiết kế?
Nguyên nhân chủ yếu do hệ thống công trình đầu mối và kênh dẫn bị xuống cấp sau gần 40 năm khai thác, tình trạng bồi lắng lòng dẫn làm giảm khả năng tải nước, cùng với việc vận hành điều tiết nước trước đây hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm chủ quan khiến lượng nước bị thất thoát lớn ở các tuyến kênh hạ lưu.

Phần mềm GAMS đóng vai trò như thế nào trong bài toán tối ưu hóa của luận văn?
Phần mềm GAMS đóng vai trò là công cụ giải thuật toán quy hoạch toán học, cho phép mô hình hóa đồng thời hàng trăm biến số về lưu lượng, dung tích trữ hồ chứa và năng suất cây trồng để tìm ra nghiệm phân phối nước tối ưu nhất giúp tối đa hóa tổng giá trị kinh tế toàn khu tưới.

Phương pháp tính toán nhu cầu nước cho cây trồng trong nghiên cứu có ưu điểm gì?
Tác giả sử dụng công thức Penman cải tiến chuẩn FAO năm 1992 tích hợp trong chương trình IRR_2006. Phương pháp này có độ nhạy rất cao nhờ xét đến đầy đủ các yếu tố bức xạ mặt trời, độ ẩm không khí 82%, nhiệt độ và tốc độ gió, giúp xác định chuẩn xác lượng bốc thoát hơi nước mặt ruộng theo từng giai đoạn sinh trưởng.

Hồ chứa Cấm Sơn có dung tích và nhiệm vụ cụ thể ra sao trong hệ thống?
Hồ Cấm Sơn có dung tích hữu ích 227,7 triệu m3, lưu vực hứng nước 378,4 km2, giữ nhiệm vụ điều tiết dòng chảy nhiều năm trên sông Hóa để xả bổ cập dòng chảy kiệt với lưu lượng thiết kế qua cống tưới đạt 30 m3/s đưa về đập dâng Cầu Sơn phục vụ tưới cho hơn 22.000 ha đất canh tác.

Quy trình vận hành tối ưu trong luận văn có thể chuyển giao cho các hệ thống khác không?
Hoàn toàn có thể chuyển giao. Khung mô hình toán học và phương pháp tiếp cận cân bằng nước - kinh tế của luận văn có tính khái quát hóa cao, rất phù hợp để áp dụng cho các hệ thống thủy nông bậc thang tương tự tại các tỉnh vùng trung du và Đồng bằng sông Hồng.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng hệ thống thủy nông Cầu Sơn - Cấm Sơn trên quy mô 56.096 ha tự nhiên và 24.257 ha đất canh tác, làm rõ nguyên nhân khiến hiệu suất tưới thực tế chỉ đạt 49,8% so với thiết kế.
  • Tính toán chuẩn xác nhu cầu nước tưới cho 53.500 ha diện tích gieo trồng hàng năm bằng công thức Penman cải tiến của FAO thông qua phần mềm IRR_2006.
  • Thiết lập thành công mô hình toán học tối ưu hóa điều tiết nước trên nền tảng phần mềm GAMS, giúp tiết kiệm từ 12% đến 18% lượng nước xả từ hồ chứa Cấm Sơn dung tích 227,7 triệu m3.
  • Đề xuất các giải pháp kỹ thuật công trình đồng bộ, ưu tiên kiên cố hóa 5 tuyến kênh chính cấp 1 dài hơn 87,2 km và lắp đặt hệ thống tự động hóa đo đếm dòng chảy SCADA.
  • Định hướng kiện toàn mô hình quản lý thủy nông mặt ruộng tại 50 xã phường đến năm 2020 nhằm nâng cao năng lực khai thác công trình bền vững.

Đóng góp chính của luận văn là đã đặt nền móng khoa học vững chắc cho việc chuyển đổi phương thức quản lý thủy nông từ kinh nghiệm truyền thống sang điều hành tối ưu hóa hiện đại. Kế hoạch tiếp theo cần tập trung số hóa toàn bộ mạng lưới thủy văn và đưa phần mềm GAMS vào thử nghiệm trực tiếp tại hiện trường trong giai đoạn 2012-2015. Hãy liên hệ với các cơ quan chuyên môn thủy lợi để tiếp cận trọn vẹn mô hình tính toán và ứng dụng ngay giải pháp tối ưu này vào thực tiễn quản lý nguồn nước tại địa phương.