Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái sở hữu tổng diện tích tự nhiên đạt 16.039 ha, trong đó diện tích đất có rừng chiếm tới 15.328,27 ha, tương đương 95,57% tổng diện tích lãnh thổ. Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2018, độ che phủ rừng tại đây đã ghi nhận bước tăng trưởng ấn tượng từ 65% lên trên 97%. Tuy nhiên, khu bảo tồn đang phải đối mặt với áp lực lớn từ điều kiện kinh tế - xã hội địa phương khi tỷ lệ hộ nghèo tại vùng lõi xã Nà Hẩu chiếm tới 45% và hộ cận nghèo là 15%, dẫn đến tình trạng khai thác lâm sản và săn bắt động vật hoang dã trái phép diễn biến phức tạp.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; phân tích ma trận thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức; đồng thời lượng hóa các mối đe dọa sinh thái thực địa nhằm thiết lập hệ thống giải pháp quản lý bền vững.

Phạm vi không gian của đề tài bao quát toàn bộ vùng lõi bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái trên địa bàn 4 xã: Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng và Phong Dụ Thượng. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa được tiến hành trong năm 2019, kết hợp phân tích chuỗi dữ liệu quản lý lâm nghiệp xuyên suốt giai đoạn 2009–2019.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp bộ dữ liệu kiểm kê chuẩn xác về 516 loài thực vật và 129 loài động vật có xương sống, làm căn cứ chuyển đổi mô hình quản lý rừng từ hành chính thuần túy sang đồng quản lý có sự tham gia của 429 hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết Quản lý rừng bền vững (Sustainable Forest Management) và lý thuyết Lâm nghiệp xã hội (Social Forestry), nhấn mạnh sự cân bằng giữa bảo tồn đa dạng sinh học với nâng cao sinh kế cộng đồng dân cư bản địa. Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng khung đánh giá hiệu quả quản lý khu bảo tồn kết hợp mô hình ma trận SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) để phân tích các yếu tố nội tại và ngoại cảnh.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: quản lý bảo vệ rừng theo Luật Lâm nghiệp, hệ thống rừng đặc dụng, tính đa dạng sinh học, cơ chế giao khoán lâm nghiệp và vùng đệm sinh thái. Những khung lý thuyết này đảm bảo tính nhất quán trong việc đánh giá tương tác giữa can thiệp của con người và tính toàn vẹn của hệ sinh thái rừng nhiệt đới.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản pháp lý quy hoạch 3 loại rừng, báo cáo kiểm kê tài nguyên của Hạt Kiểm lâm Văn Yên và số liệu thống kê kinh tế - xã hội địa phương. Dữ liệu sơ cấp được thiết lập thông qua khảo sát thực địa với cỡ mẫu phỏng vấn gồm 60 đối tượng, bao gồm 50 hộ gia đình sinh sống tại 24 thôn bản và 10 cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng cho nhóm hộ dân người Dao và H'Mông, trong khi phương pháp chọn mẫu chuyên gia có chủ đích được áp dụng cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật.

Nghiên cứu bố trí 5 tuyến điều tra thực địa xuất phát từ trung tâm các bản men theo các lối mòn dân sinh đi vào rừng sâu nhằm ghi nhận tọa độ, mức độ tác động của các hành vi can thiệp tài nguyên. Lý do lựa chọn phương pháp đánh giá mối đe dọa của Margoluis và Salafsky (2001) kết hợp xử lý thống kê bằng phần mềm chuyên dụng là nhằm định lượng hóa mức độ nguy hại dựa trên 3 tiêu chí khoa học: diện tích ảnh hưởng, cường độ tàn phá sinh cảnh và tính cấp thiết thời gian. Tiến độ nghiên cứu được triển khai đồng bộ từ khâu điều tra ngoại nghiệp tháng 5 năm 2019 đến xử lý nội nghiệp và hoàn thiện luận văn vào tháng 10 năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu tài nguyên đất lâm nghiệp đạt 16.328,27 ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm ưu thế tuyệt đối với 13.504,1 ha (chiếm 82,7% diện tích lâm nghiệp), rừng trồng đạt 1.824,17 ha (11,17%) và diện tích đất chưa có rừng chỉ còn 710,73 ha (4,43%). Trong diện tích rừng tự nhiên, rừng gỗ có trữ lượng đạt 10.430,09 ha với 5.697,78 ha rừng trung bình và 4.732,31 ha rừng nghèo kiệt, phản ánh tiềm năng sinh khối phục hồi rất khả quan.

Thứ hai, giá trị bảo tồn sinh thái tại khu vực ở mức rất cao với 516 loài thực vật bậc cao thuộc 332 chi, 126 họ của 5 ngành thực vật, trong đó có 27 loài quý hiếm ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam. Khu hệ động vật ghi nhận 129 loài thuộc 54 họ, 17 bộ của 4 lớp động vật có xương sống (gồm 31 loài thú, 63 loài chim, 25 loài bò sát và ếch nhái), với 28 loài thuộc Sách đỏ Việt Nam và 30 loài thuộc danh mục Nghị định của Chính phủ.

Thứ ba, công tác giao khoán bảo vệ rừng đã thiết lập được 24 hợp đồng với sự tham gia tích cực của 429 hộ gia đình trên địa bàn 24 thôn bản, quản lý tổng diện tích 10.460,9 ha rừng tự nhiên. Giai đoạn trước đó, khu bảo tồn cũng đã khoanh nuôi tái sinh thành công 943,7 ha và trồng mới 200 ha rừng đặc dụng tại xã Phong Dụ Thượng.

Thứ tư, nghiên cứu đã lượng hóa 6 mối đe dọa trực tiếp bao gồm: săn bắt bẫy động vật hoang dã, khai thác gỗ trái phép, khai thác củi, thu hái lâm sản ngoài gỗ, chăn thả gia súc tự do và tình trạng trồng thảo quả dưới tán rừng. Về mặt tổ chức, đơn vị chưa có Ban quản lý chuyên trách độc lập mà vận hành thông qua Hạt Kiểm lâm huyện Văn Yên với 33 cán bộ phụ trách diện tích rộng lớn, tạo áp lực định mức lên tới gần 500 ha trên mỗi cán bộ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến các vi phạm lâm luật bắt nguồn từ tình trạng thiếu đất sản xuất lúa nước (bình quân chỉ 285 m2/khẩu) cùng tập quán canh tác nương rẫy lâu đời của cộng đồng bản địa. Tỷ lệ hộ nghèo lên tới 45% buộc người dân phải khai thác tài nguyên rừng để bổ sung nguồn thu nhập và chất đốt sinh hoạt.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu hiện trạng đất có rừng (95,57% diện tích) so với đất trống (4,43%), kết hợp biểu đồ cột ngang so sánh điểm số mức độ nguy hại của 6 mối đe dọa sinh thái. So sánh với các nghiên cứu lâm nghiệp tại vùng Tây Bắc, diễn biến tại Nà Hẩu thể hiện quy luật chung: diện tích che phủ tăng nhanh về lượng nhưng cấu trúc tầng tán rừng vùng ven chịu sự suy giảm cục bộ do việc thu hái lâm sản ngoài gỗ và canh tác thảo quả. Điều này khẳng định việc chỉ áp dụng biện pháp hành chính là chưa đủ, mà cần chuyển trọng tâm sang giải quyết bài toán kinh tế lâm sản bền vững cho người dân vùng đệm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn bộ máy tổ chức bằng cách thành lập Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu độc lập trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái trước năm 2021, nâng định biên nhân sự từ 33 lên 40 cán bộ chuyên trách nhằm hạ định mức quản lý xuống dưới 400 ha/cán bộ.

Thứ hai, tiến hành số hóa và hoàn thiện hệ thống ranh giới ngoài thực địa, triển khai cắm bổ sung 60 cột mốc bê tông kiên cố quy chuẩn 10x10cm tại các vị trí giáp ranh khu dân cư, đồng thời ứng dụng công nghệ định vị vệ tinh GPS để quản lý toàn diện 16.039 ha ranh giới trong giai đoạn 2020–2022.

Thứ ba, cải thiện sinh kế và nâng cao mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 429 hộ gia đình đang nhận khoán 10.460,9 ha rừng tự nhiên. UBND huyện Văn Yên chủ trì mở rộng vùng chuyên canh cây quế hữu cơ tại vùng đệm, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo tại xã Nà Hẩu từ 45% xuống dưới 25% vào năm 2025.

Thứ tư, tăng cường thực thi pháp luật và nâng cao năng lực giám sát thông qua việc thiết lập 5 chốt kiểm soát liên ngành cơ động, tổ chức tối thiểu 2 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về kỹ thuật tuần tra rừng cho 100% cán bộ kiểm lâm địa bàn trong giai đoạn 2020–2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước như Chi cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể sử dụng dữ liệu luận văn để xây dựng quy hoạch phân khu bảo tồn và hoàn thiện đề án quản lý rừng đặc dụng cấp tỉnh.

Thứ hai, ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia trên toàn quốc có thể áp dụng quy trình đánh giá mối đe dọa sinh thái và phương pháp tổ chức mạng lưới giao khoán bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng thôn bản.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học và Sinh thái học có thể khai thác các dẫn liệu thực nghiệm về 516 loài thực vật và 129 loài động vật làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học có thể sử dụng các chỉ số nghèo đói và sinh kế của 429 hộ dân để thiết kế các dự án viện trợ phát triển bền vững vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ che phủ rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu biến động như thế nào qua các giai đoạn?
Độ che phủ rừng tại Nà Hẩu đã ghi nhận bước tăng trưởng từ 65% vào năm 2009 lên trên 97% vào năm 2018. Tổng diện tích đất có rừng đạt 15.328,27 ha trên tổng diện tích 16.039 ha, khẳng định hiệu quả của các chương trình khoanh nuôi tái sinh và hạn chế tình trạng phá rừng làm nương rẫy.

Các mối đe dọa lớn nhất đối với đa dạng sinh học tại khu bảo tồn được xác định gồm những gì?
Nghiên cứu chỉ ra 6 áp lực chính gồm săn bẫy động vật, khai thác gỗ quý, lấy củi, thu hái lâm sản ngoài gỗ, trồng thảo quả dưới tán rừng và thả rông gia súc. Trong đó, khai thác gỗ và đặt bẫy động vật là các mối đe dọa có cường độ tàn phá và tính cấp thiết xử lý cao nhất.

Cơ chế giao khoán bảo vệ rừng tại Nà Hẩu đang được thực hiện theo quy mô nào?
Khu bảo tồn đã thực hiện 24 hợp đồng giao khoán trực tiếp với 429 hộ gia đình trên địa bàn 24 thôn bản, quản lý 10.460,9 ha rừng tự nhiên. Phương thức này phát huy hiệu quả bảo vệ rừng đầu nguồn nhờ gắn kết trách nhiệm và quyền lợi của đồng bào dân tộc Dao và H'Mông.

Luận văn đã sử dụng phương pháp nào để lượng hóa các tác động đe dọa tài nguyên rừng?
Tác giả áp dụng phương pháp của Margoluis và Salafsky, kết hợp điều tra trên 5 tuyến thực địa và phỏng vấn 60 người dân cùng cán bộ quản lý. Thang điểm đánh giá dựa trên 3 tiêu chí độc lập: phạm vi không gian, cường độ tàn phá sinh cảnh và tính cấp thiết của hành vi vi phạm.

Đâu là hạn chế lớn nhất trong cơ cấu tổ chức quản lý tại khu bảo tồn hiện nay?
Khu bảo tồn chưa thành lập được Ban quản lý độc lập mà vẫn trực thuộc Hạt Kiểm lâm Văn Yên với 33 cán bộ. Định mức bình quân 500 ha rừng trên một kiểm lâm viên giữa địa hình chia cắt mạnh gây cản trở lớn cho công tác tuần tra và kiểm soát thực địa.

Kết luận

  • Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu sở hữu 15.328,27 ha đất có rừng, nâng tỷ lệ che phủ toàn khu vực lên trên 97% vào năm 2018.
  • Hệ sinh thái lưu giữ nguồn gen phong phú với 516 loài thực vật bậc cao (27 loài Sách đỏ) và 129 loài động vật có xương sống (28 loài Sách đỏ).
  • Mô hình giao khoán bảo vệ rừng huy động thành công 429 hộ gia đình tại 24 thôn bản quản lý 10.460,9 ha rừng tự nhiên.
  • Nhận diện 6 mối đe dọa sinh thái bắt nguồn từ sức ép sinh kế vùng đệm với tỷ lệ hộ nghèo tại xã Nà Hẩu chiếm 45%.
  • Cơ cấu quản lý kiêm nhiệm gồm 33 cán bộ kiểm lâm cần được chuyển đổi mô hình để đáp ứng yêu cầu bảo tồn dài hạn.

Đóng góp then chốt của luận văn là cung cấp bức tranh toàn diện về hiện trạng tài nguyên và xác lập hệ thống giải pháp liên ngành kết hợp quản lý nhà nước với phát triển sinh kế bản địa. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi tập trung hoàn thiện đề án thành lập Ban quản lý chuyên trách giai đoạn 2020–2022 và nhân rộng mô hình kinh tế quế bền vững đến năm 2025. Các nhà quản lý và nhà khoa học lâm nghiệp hãy nghiên cứu, ứng dụng những đề xuất từ công trình này nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững tài nguyên rừng tại khu vực Tây Bắc.