CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1. Khái niệm, vai trò của bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Có nhiều cách định nghĩa về bảo hiểm xã hội, có thể kể đến như: Theo Hội đồng biên soạn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế, bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Theo góc độ tài chính, BHXH là quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng những NLĐ, có sự bảo trợ của nhà nước, để san sẻ rủi ro, đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật.
Theo góc độ chính trị, BHXH góp phần liên kết giữa những người lao động xuất phát từ lợi ích chung của họ. Theo góc độ xã hội, BHXH được hiểu như là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi thu nhập của họ bị giảm hay mất. Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lượng lao động xã hội, lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động ổn định trật tự xã hội. Theo quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.
Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau: - BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa: khi nền kinh tế của một Luan van 7 quốc gia phát triển thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời. Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế. Một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh. Kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú.
- BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập. Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP, được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, già yếu, chết… Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện cả theo chiều dọc và chiều ngang. Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối của chính bản thân người lao động theo thời gian (nghĩa là sự phân phối lại thu nhập của quá trình làm việc và quá trình không làm việc). Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh cho người ốm đau, bệnh tật; giữa những người trẻ cho người già; giữa những người không sinh đẻ (nam giới) và người sinh đẻ (nữ giới); giữa những người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp… Như vậy, BHXH mang cả bản chất kinh tế và cả bản chất xã hội.
Về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập, đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được bảo đảm trước những bất trắc, rủi ro xã hội. Về mặt xã hội, do có sự “san sẻ rủi ro” của BHXH, người lao động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra. Ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù cho số ít”. Tuy nhiên, tính kinh tế và tính xã hội của BHXH không tách rời mà đan xen lẫn nhau.
Khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho người lao động và gia đình họ là đã nói đến tính xã hội của BHXH, ngược lại, khi nói tới sự đóng góp ít nhưng lại đủ trang trải rủi ro xã hội thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH. Các loại hình, chế độ bảo hiểm xã hội Luật Bảo hiểm xã hội quy định ba loại hình BHXH đó là: - Bảo hiểm xã hội bắt buộc: Là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia; Luan van 8 - Bảo hiểm xã hội tự nguyện: Là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất; - Bảo hiểm thất nghiệp: Áp dụng bắt buộc đối với NLĐ là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn; hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng. Tùy theo điều kiện, hệ thống BHXH của mỗi nước có thể có các chế độ BHXH khác nhau trong số 9 chế độ mà Tổ chức Lao động quốc tế quy định. Hiện nay pháp luật BHXH của Việt Nam quy định có 5 chế độ: Chế độ trợ cấp cho những trường hợp bị ốm đau (gọi tắt là chế độ ốm đau); chế độ BHXH cho lao động nữ khi sinh con (gọi tắt là chế độ thai sản); chế độ trợ cấp BHXH cho người lao động bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (gọi tắt là chế độ TNLĐ & BNN); chế độ bảo hiểm tuổi già (gọi tắt là chế độ hưu trí); chế độ mai táng và trợ cấp mất người nuôi dưỡng (gọi tắt là chế độ tử tuất).
Vai trò của bảo hiểm xã hội Đối với NLĐ: Trong quá trình sinh hoạt cũng như lao động, làm việc, NLĐ luôn phải đối mặt với các rủi ro khiến họ giảm hoặc mất một phần thu nhập, gây ra các khó khăn về tinh thần và tài chính không những của bản thân mà còn cả gia đình của NLĐ. Theo quy định của Luật BHXH, trên cơ sở tham gia đóng BHXH của người lao động, quỹ bảo hiểm xã hội sẽ bù đắp một phần thu nhập bị giảm hoặc bị mất đó, giúp họ ổn định cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Đối với người SDLĐ: Người sử dụng lao động có trách nhiệm phải bảo hiểm cho người lao động mà mình thuê mướn nhằm bảo đảm cho quá trình sản xuất của họ không bị ảnh hưởng. Bởi lẽ, nếu người SDLĐ thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về BHXH, BHXH sẽ chia sẻ rủi ro cùng người SDLĐ khi người lao động phát sinh nhu cầu cần BHXH, giúp cho người SDLĐ bớt những khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của đơn vị, yên tâm tổ chức sản xuất kinh doanh.
Luan van 9 BHXH góp phần gắn kết và cải thiện mối quan hệ người SDLĐ và NLĐ do BHXH cũng là một trong những tiêu chí mà NLĐ xem xét khi lựa chọn các doanh nghiệp mình muốn làm việc, muốn gắn kết lâu dài. Ngoài các chế độ lương, thưởng, các doanh nghiệp thu hút lao động bằng việc đưa ra các chính sách BHXH có lợi nhất cho NLĐ, sẽ tạo được sự an tâm, tin tưởng, gắn bó, tự nguyện cống hiến hết sức mình cho công việc từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động. Đối với nền kinh tế - xã hội: BHXH thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước thông qua quỹ BHXH hình thành do NLĐ và người SDLĐ đóng góp, dưới sự bảo hộ của Nhà nước. Quỹ BHXH có liên kết chặt chẽ với hệ thống tài chính, ngân sách nhà nước, hệ thống tín dụng, thị trường tài chính… Đây là một trong những nguồn vốn quan trọng để đầu tư, phát triển kinh tế đất nước thông qua việc tạo ra các cơ sở sản xuất kinh doanh mới, tạo thêm các việc làm mới, tăng thu nhập cho cá nhân NLĐ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
BHXH góp phần đảm bảo thực hiện công bằng xã hội. BHXH là sự bù đắp sẻ chia của những người không gặp rủi ro cho những người gặp rủi ro, giữa những người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp, giữa người khỏe mạnh và người ốm đau, giữa NLĐ làm việc với những người thất nghiệp… 1. Thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Khái niệm, đặc điểm, phương thức thu BHXH bắt buộc Khái niệm: Thu BHXH bắt buộc là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để các đối tượng phải đóng BHXH theo mức thu quy định.
Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích bảo đảm cho các hoạt động của quỹ BHXH. Đối tượng của thu BHXH bắt buộc bao gồm: Người lao động, người sử dụng lao động theo quy định của Luật BHXH Việt Nam.