Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu và thực hiện trên thế giới Đồng quản lý rừng (Joint Forest Management) hay hợp tác quản lý khu rừng bảo vệ (Co-management of Protected Areas) lần đầu tiên được biết đến ở Ân Độ và sau đó nhanh chóng lan rộng tới các quốc gia thuộc các nước Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh và Châu Á. Năm 1996, tại Vườn quốc gia Bwindi Impenetrable và MgaHinga Gorilla thuộc Uganda, Wild và Mutebi đã nghiên cứu hợp tác quản lý, được thực hiện giữa ban quản lý Vườn quốc gia và cộng đồng dân cư. Trên cơ sở thoả thuận ký kết quy ước giữa hai bên cho phép người dân khai thác bền vững một số lâm sản, đồng thời có nghĩa vụ tham gia quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn của cộng đồng dân cư.
Trong báo cáo “Hợp tác quản lý với người dân ở Nam Phi Phạm vi vận động” của Moenieba Isaacs và Najma Mohamed (2000) đã nghiên cứu các hoạt động hợp tác quản lý tại Vườn quốc gia Richtersveld là khu vực giàu có về tài nguyên thiên nhiên và mỏ kim cương. Các cộng đồng dân cư ở đây là những người di cư từ tỉnh Cape, tới chủ yếu làm nghề khai thác kim cương. Tuy nhiên, đời sống của người dân vẫn rất khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém, điều kiện làm việc trong các hầm mỏ nguy hiểm. Người dân nhận thức chưa cao về bảo tồn thiên nhiên, trong khi đó công việc của họ làm ảnh hưởng tới đa dạng sinh học của Vườn quốc gia.
Ban quản lý Vườn quốc gia đã phải nghiên cứu phương thức bảo tồn trong nhiều năm và cho đến năm 1991 mới chính thức tìm ra được phương thức hợp tác quản lý với cộng đồng dân cư. Phương thức này chủ yếu dựa trên hương ước quản lý bảo vệ tài nguyên (Contractual Agreement). Trong đó, người dân cam kết bảo vệ đa dạng sinh 7 học trên địa phận của mình, còn chính quyền và Ban quản lý hỗ trợ người dân xây dựng cơ sở hạ tầng và cải thiện các điều kiện kinh tế - xã hội khác. Cũng tương tự, tại Vườn quốc gia Kruger (2000) người dân trước đây đã chuyển đi từ Makuleke, khi Chính phủ mới thành lập đã cho phép người dân trở lại vùng đất truyền thống để sinh sống.
Để đạt được quyền sử dụng đất đai cũ, người dân phải xây dựng quy ước bảo vệ môi trường trong khu vực Vườn quốc gia, đồng thời họ cũng được chia xẻ lợi ích thu được từ du lịch. Những kết quả đạt được về đồng quản lý tài nguyên ở Nam Phi đã trở thành bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển khác. Ở Canada, trong bài viết của Sherry, E. E, (1999) về đồng quản lý, Vườn quốc gia Vutut vừa là một Khu bảo tồn thiên nhiên vừa là khu di sản văn hoá của người thổ dân ở vùng Bắc Cực.
Liên minh giữa chính quyền và thổ dân đã huy động được lực lượng người dân kết hợp với Ban quản lý làm thay đổi chiều hướng bảo tồn tự nhiên hoang dã và tăng các giá trị của Vườn quốc gia. Đồng quản lý ở đây đã kết hợp được giữa các mối quan tâm và kiến thức bản địa với mục tiêu bảo tồn. Ban quản lý Vườn quốc gia giúp về kỹ thuật xây dựng các mô hình bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội, còn dân bản địa có thể thực hiện các mô hình đó. Hợp tác quản lý ở đây đã giải quyết hài hoà mâu thuẫn giữa chính sách của chính quyền và bản sắc truyền thống của người dân, đảm bảo cho sự thành công của công tác bảo tồn hoang dã và bảo tồn các di sản văn hoá.
Đồng quản lý ở Vườn quốc gia Vutut được đánh giá là rất thành công, theo tác giả thì nó được thiết kế để “kết hợp giữa sự tốt đẹp nhất của hai thế giới” nhà nước văn minh và thổ dân. Shuchenmann (1999) đã đưa ra một ví dụ ở Vườn quốc gia Andringitra, là Vườn quốc gia thứ 14 của nước cộng hoà Madagascar. Vườn quốc gia là một vùng núi có mối liên hệ giữa các hệ sinh thái, sinh cảnh, đa dạng sinh học và cảnh quan cũng như di tích văn hoá. Chính phủ có nghị định đảm bảo các 8 quyền của người dân như quyền chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi để sử dụng tại chỗ, cho phép giữ gìn những tập quán truyền thống khác như có thể giữ gìn các điểm thờ cúng thần rừng.
Để đạt được những thoả thuận trên, người dân phải đảm bảo tham gia bảo vệ sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực. Ngoài ra, có nhiều bên liên quan tham gia trong Ban đồng quản lý như cơ quan du lịch, chính quyền địa phương. Theo báo cáo của Oli Krishna Prasad (1999), tại Khu bảo tồn Hoàng gia Chitwan ở Nepal, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số các bên liên quan quản lý tài nguyên vùng đệm phục vụ cho du lịch. Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên là khoảng 30% - 50% thu được từ du lịch hàng năm sẽ đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng.
Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở đồng quản lý tài nguyên rừng phục vụ du lịch ở vùng đệm [25]. Thái Lan là một nước Châu á được đánh giá đạt được nhiều thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình đồng quản lý các khu rừng bảo vệ. Các cộng đồng dân cư có đời sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng thường rất thành thạo khi đóng vai trò là người bảo vệ hoặc người tham gia quản lý Khu bảo tồn Poffenberger, M. (1993) trong báo cáo “Liên minh cộng đồng đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại Vườn quốc gia Dong Yai nằm ở Đông Bắc và khu rừng phòng hộ Nam Sa ở phía bắc Thái Lan.
Đó là những vùng quan trọng đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời cũng là những vùng có nhiều đặc điểm độc đáo về kinh tế - xã hội, về thể chế truyền thống của cộng đồng người dân địa phương trong quản lý và sử dụng tài nguyên. Tại Dong Yai, người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục Lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái, cũng như phục vụ lợi ích của người dân 9 trong khu vực. Tại Nam Sa, cộng đồng dân cư cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng hộ. Họ khẳng định rằng nếu Chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực thì họ chắc chắn sẽ thành công trong việc kiểm soát các hoạt động khai thác quá mức nguồn tài nguyên rừng, các hoạt động phá rừng và tác động tới môi trường.
Đồng quản lý ở Thái Lan có thể trở thành bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam, bởi Thái Lan cũng là một nước trong vùng Đông Nam á, có một số đặc điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện tự nhiên và văn hoá, xã hội. Tình hình nghiên cứu và thực hiện ở Việt Nam và đánh giá sơ bộ Hợp tác quản lý đã được biết đến từ sau Cách mạng tháng 8 dưới hình thức hợp tác xã (Co-operative). Đối với tài nguyên rừng, công tác quản lý của hợp tác xã dừng lại ở mức độ đơn giản, coi tài nguyên rừng là của chung, các hoạt động khai thác và sử dụng đều mang tính tập thể. Khái niệm đồng quản lý tài nguyên lần đầu tiên được đưa vào Việt Nam năm 1997 tại khoá tập huấn về “Kết hợp bảo tồn và phát triển” (Integrated Conservation and Developmnet - ICD) tổ chức tại Vườn quốc gia Cát Tiên, do Quỹ quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tài trợ.
Sau đó, khái niệm này lại được giới thiệu trong một số các khoá tập huấn về bảo tồn thiên nhiên của các dự án được các tổ chức quốc tế tài trợ như dự án LINC (Bảo tồn liên kết Hinnamno và Phong Nha - Kẻ Bàng), dự án PARC (Bảo tồn thiên nhiên trên quan điểm sinh thái nhân văn). Tại các khoá tập huấn này, đồng quản lý tài nguyên mới dừng lại ở khái niệm và lý thuyết cơ bản. Ulrich Apel, Oliver C. Maxwell và các tác giả (2002) đã có nghiên cứu về phối hợp quản lý và bảo tồn ở Khu BTTN Pù Luông.
Các tác giả đánh giá nghịch lý về sử dụng đất đai và nhà ở, tình hình quản lý tài nguyên thiên nhiên ở một số bản vùng đệm khu BTTN Pù Luông. Nghiên cứu này mới đưa ra được một số phân tích về sự phụ thuộc của người dân đối với tài nguyên 10 rừng và đánh giá một số thể chế, chính sách hiện nay đối với công tác quản lý rừng đặc dụng. Tuy nhiên, chưa đánh giá được đầy đủ tiềm năng về đồng quản lý, cũng như chưa đưa ra được nguyên tắc và giải pháp thực hiện [21]. Tuy chưa có những nghiên cứu đầy đủ, nhưng trong thực tế cho thấy đồng quản lý các khu rừng đặc dụng là một trong những xu hướng phù hợp với điều kiện bảo tồn thiên nhiên ở nước ta.
Một số dự án đang hoạt động với nội dung đồng quản lý rừng, điển hình như dự án quản lý vùng chiến lược kết hợp với bảo tồn thiên nhiên (MOSAIC) do USAID/WWF tài trợ triển khai ở phía Tây tỉnh Quảng Nam. Trong đó, nội dung thử nghiệm đồng quản lý rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh mới tiến hành từ năm 2001 và đang trong thời gian thử nghiệm cho giai đoạn tiếp theo. Dự án về đồng quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đang trong giai đoạn khởi động do tổ chức Catherine T.Macarthur Foundation tài trợ. Mục tiêu của dự án nhằm xây dựng mô hình đồng quản lý rừng giữa Ban quản lý Khu bảo tồn và cộng đồng dân cư, có sự tham gia của các tổ chức, cơ quan liên quan.
Tuy nhiên, các dự án trên đều đang lúng túng vì chưa đưa ra được tiến trình, nguyên tắc và các giải pháp thích hợp để xây dựng kế hoạch đồng quản lý tài nguyên rừng. Ngày 4/8/2003, Hội thảo về “Ý tưởng thành lập Khu BTTN Phu Xai Lai Leng do cộng đồng quản lý” được tổ chức tại thành phố Vinh, Nghệ An. Hội thảo đề xuất một số vấn đề đồng quản lý rừng, tuy nhiên chưa thống nhất được nguyên tắc và giải pháp thực hiện [11]. Như vậy, ở Việt Nam đồng quản lý rừng đặc dụng là nhu cầu thực tiễn rất cần thiết trong công tác bảo tồn thiên nhiên.