Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước cảng, bến đường thủy nội địa. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước tại các Cảng, bến thủy nội địa trên địa bàn quản lý của Cảng vụ Đường thủy nội địa Bến Tre. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước tại các Cảng, bến thủy nội địa của Cảng vụ Đường thủy nội địa Bến Tre. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CẢNG, BẾN, ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA 1.
Tổng quan về quản lý Nhà nước 1. Khái niệm quản lý Ngày nay, thuật ngữ “Quản lý – Management” được sử dụng phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất. Có người cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác, cũng có người cho quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân và nhằm đạt được mục đích của nhóm…Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Dựa trên các tiêu chí khác nhau, người ta phân ra quản lý kỹ thuật và quản lý xã hội; quản lý vĩ mô và quản lý vi mô,… Trong các loại quản lý thì quản lý xã hội là phức tạp nhất.
Do tính chất xã hội của lao động của con người, quản lý tồn tại trong mọi xã hội ở bất cứ lĩnh vực nào và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào. Lao động của con người luôn luôn là lao động tập thể, mỗi người có một vị trí nhất định trong tập thể, nhưng có quan hệ và có giao tiếp với người khác, tập thể khác trong quá trình lao động. Vì vậy cần có sự quản lý để duy trì tính tổ chức, sự phân công lao động, các mối quan hệ giữa những người trong một tổ chức xã hội và giữa các tổ chức xã hội trong quá trình sản xuất vật chất, trong quá trình xã hội, nhằm đạt mục tiêu nhất định. Một mặt, xã hội là một hệ thống trên của kinh tế, bao gồm toàn bộ các hoạt động cả về kinh tế, chính trị, hành chính,…nên nó chứa đựng tất cả những sự phức tạp của các đối tượng phải quản lý, vì vậy quản lý là một khoa học, dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên hay xã hội.
Mặt khác, trong quản lý xã hội có những quan hệ phi chính thức như quan hệ đạo đức, quan hệ cá nhân, quan hệ xã hội nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật, vì vậy đồng thời, quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội, tự nhiên, hay kỹ thuật. Quản lý có các vai trò sau: 6 + Quản lý nhằm tạo sự thống nhất ý chí trong tổ chức, bao gồm các thành viên của tổ chức, giữa những người bị quản lý với nhau và giữa những người bị quản lý và người quản lý. + Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung và hướng mọi nỗ lực của các cá nhân, của tổ chức vào mục tiêu chung. Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển cá nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và hiệu quả.
+ Tổ chức, điều hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân trong tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt mục tiêu quản lý. + Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích, đánh giá, khen thưởng những người có công; uốn nắn những lệch lạc, sai sót của cá nhân trong tổ chức nhằm giảm bớt những sai lệch trong quá trình quản lý. Từ khái niệm và vai trò của quản lý, có thể mô phỏng quan hệ chủ thể quản lý – đối tượng quản lý và mục tiêu quản lý như sau: Xác định Chủ thể quản lý Nghệ thuật Khoa học quản lý Công cụ quản lý quản lý Mục tiêu quản lý Đối tượng quản lý Thực hiện Hình 1. Mô phỏng quan hệ quản lý 1.
Tổng quan về quản lý Nhà nước a. Khái niệm quản lý Nhà nước Đời sống xã hội là sự tổng hòa của nhiều yếu tố và quá trình vận động phát triển. Mỗi yếu tố và quá trình lại bị chi phối bởi những quy luật vận động nhất định, làm nên sự đa dạng, phong phú cả về nội dung và hình thức của đời sống xã hội. Muốn có một xã hội phát triển ổn định, bền vững, cần nhiều chủ thể tham gia quản lý các đối tượng khác nhau như: Các tổ chức chính trị, pháp lý, các tổ chức đoàn thể nhân dân, các nghiệp đoàn và tổ chức kinh tế,…trong đó Nhà nước giữ vai trò quản lý vĩ mô.
Quản lý Nhà nước xuất hiện sau khi các Nhà nước ra đời và là dạng thức quản 7 lý đặc biệt – quản lý toàn thể xã hội. Mỗi Nhà nước luôn gắn với một thiết chế xã hội nhất định theo phạm vi không gian và thời gian, do vậy đặc tính quản lý Nhà nước sẽ thay đổi tùy theo bản chất của chế độ chính trị và trình độ phát triển nền kinh tế - xã hội mỗi quốc gia trong từng thời kỳ. So với hoạt động quản lý của các chủ thể khác trong xã hội, quản lý Nhà nước có những điểm khác biệt sau đây: + Chủ thể quản lý Nhà nước là cơ quan chính quyền các cấp, cán bộ, công chức có thẩm quyền phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao. Những chủ thể này tham gia vào quá trình tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước về lập pháp, hành pháp, và tư pháp theo luật định.
+ Đối tượng quản lý Nhà nước bao gồm tất cả các tổ chức, cá nhân sinh sống và hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; các nguồn tài nguyên thiên nhiên và xã hội được khai thác sử dụng vào quá trình cung cấp các sản phẩm theo nhu cầu xã hội. + Quản lý Nhà nước có tính toàn diện, bao gồm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như: Chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao,… + Quản lý Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật, chính sách, kế hoạch để quản lý xã hội. + Mục tiêu quản lý Nhà nước là đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững nền kinh tế - xã hội; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Từ những đặc tính trên, có thể hiểu quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Các nguyên tắc quản lý Nhà nước Nguyên tắc quản lý Nhà nước được hiểu là những yêu cầu bắt buộc, những tư tưởng chỉ đạo hành động của tổ chức và hoạt động quản lý Nhà nước. Nguyên tắc quản lý Nhà nước được hình thành trên cơ sở khách quan và theo sự phát triển của Nhà nước và quản lý Nhà nước, do vậy các nguyên tắc quản lý Nhà nước không phải là cố định. Các nguyên tắc ấy luôn luôn phát triển và hoàn thiện theo sự biến đổi của 8 điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và theo những diễn biến trong nhận thức khách quan của con người. Có rất nhiều nguyên tắc trong quản lý Nhà nước.
Trong thực tế quản lý, có thể nhấn mạnh nguyên tắc này hoặc nguyên tắc khác. Đối với nước ta, có thể kể đến các nguyên tắc cơ bản trong quản lý Nhà nước như sau: + Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo quản lý Nhà nước trước hết bằng các nghị quyết, trong đó vạch ra đường lối, chủ trương, chính sách, nhiệm vụ cho quản lý Nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng còn thông qua công tác cán bộ: Lựa chọn và giới thiệu cán bộ cho quản lý Nhà nước, lãnh đạo việc quy hoạch, sắp xếp, bố trí cán bộ.
Về nguyên tắc, Đảng không làm thay các công việc quản lý Nhà nước. + Nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa hai mặt “tập trung” và “dân chủ” trong mối quan hệ hữu cơ biện chứng. Tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Thực hiện nguyên tắc này cần đảm bảo các yếu tố sau: 1- Sự thống nhất quản lý Nhà nước, có xét đến sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan quản lý Nhà nước, giữa Trung ương và địa phương, đảm bảo phát triển cân đối của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. 2- Quyền tự chủ và tự do kinh doanh của các chủ thể kinh tế, kể cả về ngành nghề và quy mô hoạt động, nguyên tắc có lợi cho quốc kế dân sinh và đúng pháp luật. 3- Dân chủ trong nền kinh tế, thu hút đông đảo nhân dân tham gia hoạt động quản lý của Nhà nước, đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức tham gia vào các quá trình sản xuất kinh doanh, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và Nhà nước. + Nguyên tắc pháp chế.
Thực hiện nguyên tắc này, mọi quản lý của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước phải được pháp luật điều chỉnh chặt chẽ và tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định pháp luật. Tuân thủ nguyên tắc pháp chế trong quản lý đòi hỏi: 9 1- Các cơ quan quản lý kinh tế của Nhà nước trong hoạt động ban hành quyết định quản lý và thực hiện những hành vi quản lý khác không vượt quá thẩm quyền do luật định. 2- Các chủ thể pháp luật kinh tế thuộc các thành phần đều bình đẳng trước pháp luật, được đảm bảo quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, được khuyến khích phát triển và bị hạn chế quy mô trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh. Tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của các cá nhân và tổ chức kinh tế được Nhà nước bảo hộ.