ĐẶT VẤN ĐỀ Quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân (QHTD THN) ở Việt Nam ngày càng phổ biến nhƣng vẫn chƣa đƣợc chấp nhận rộng rãi do trái thuần phong mỹ tục và luân lý ở nhiều gia đình. Nữ giới có QHTD THN thƣờng ngƣợng ngùng, lo lắng, tự dằn vặt mình. Do thiếu sự chuẩn bị tâm lý và kiến thức về tình dục, QHTD THN có thể dẫn tới các hành vi thô bạo khiến nữ giới bị tổn thƣơng. Ngoài ra, QHTD không đƣợc bảo vệ sẽ dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh lây qua đƣờng tình dục bao gồm cả HIV/AIDS.
Với tỷ lệ có QHTD THN ngày càng tăng ở vị thành niên và thanh niên (VTN-TN) Việt Nam, nhiều trƣờng hợp thƣờng lựa chọn phá thai khi mang thai ngoài ý muốn (1, 2). Các kết quả nghiên cứu gần đây ở Việt Nam chỉ ra xu hƣớng VTN-TN có tỷ lệ QHTD THN ngày càng tăng trong khi đó độ tuổi trung bình QHTD lần đầu giảm. Tuy vậy, VTN-TN chƣa đƣợc trang bị đầy đủ kiến thức về QHTD an toàn. Theo SAVY 2, tuổi lần đầu có quan hệ trung bình là 18,1 tuổi nhƣng chỉ 14,5% nữ giới và 36,5% nam giới có sử dụng bao cao su trong lần QHTD đầu tiên (2).
Một nghiên cứu trên nhóm sinh viên (SV) năm thứ 6 ở trƣờng Đại học Y Hà Nội cho thấy tỷ lệ SV có QHTD THN là 19,4%, trong đó sinh viên nam cao hơn nữ (26,6% so với 10,3%) (3). Việc QHTD THN ngày càng phổ biến đi kèm với sự thiếu kiến thức và thực hành QHTD an toàn dẫn đến nhiều hậu quả trong đó nghiêm trọng nhất là nạo phá thai ở VTN Việt Nam. Ƣớc tính, trong khoảng 250 đến 300 nghìn ca nạo phá thai hàng năm thì 20%-30% là phụ nữ chƣa kết hôn và trong đó tới 60%-70% là học sinh, sinh viên (4). Các nghiên cứu chỉ ra các yếu tố liên quan tới hành vi QHTD THN của VTN-TN gồm 5 nhóm lớn là: (1) Đặc điểm cá nhân của SV nhƣ giới tính, tuổi, hành vi lối sống, kiến thức về sức khỏe sinh sản (SKSS) và tình dục an toàn (5); (2) Yếu tố gia đình nhƣ giao tiếp và trao đổi về SKSS với cha mẹ (6); (3) Yếu tố bạn bè nhƣ các tác động xấu (rủ rê, lôi kéo, bạn bè có lối sống không lành mạnh) (7); (4) Yếu tố môi trƣờng xã hội nhƣ môi trƣờng trƣờng học, điều kiện việc làm (8); và (5) Yếu tố tiếp cận thông tin nhƣ khả năng tiếp cận internet, xem phim khiêu dâm (29).
2 Tại Đồng Tháp, báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh (CDC) cho thấy tỷ lệ phá thai chung trong toàn tỉnh là 20,9%, trong đó tỷ lệ phá thai ở tuổi VTN-TN/số phá thai chung là 2,4% và đáng quan tâm là tỷ lệ phá thai ở tuổi VTN- TN trong tất cả các ca nạo phá thai tại Thành phố Sa Đéc là 3,6% cao hơn tỷ lệ của tỉnh mà nguyên nhân do QHTD THN (9). Trƣờng Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp có 2 cơ sở, cơ sở 1 nằm trên địa bàn Thành phố Sa Đéc. Tại cơ sở 1 của trƣờng, phần lớn học sinh và sinh viên (HS-SV) sống ở trọ xa nhà. Báo cáo qua các năm học cho thấy tình trạng nạo phá thai của HS-SV nhà trƣờng có xu hƣớng tăng trong 5 năm gần đây.
Tuy vậy, chƣa có bất cứ nghiên cứu nào đƣợc triển khai tại đây. Để tăng cƣờng đảm bảo sức khoẻ nói chúng và SKSS nói riêng, cần tìm hiểu để trả lời câu hỏi về thực trạng QHTD THN và một số yếu tố liên quan của SV trƣờng Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Quan hệ tình dục trước hôn nhân và một số yếu tố liên quan ở sinh viên tuổi 18-24 tại cơ sở 1 trường Cao đẳng cộng đồng Đồng Tháp năm 2021”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân của sinh viên tuổi 18- 24 đang học tại cơ sở 1 trƣờng Cao đẳng cộng đồng Đồng Tháp năm 2021. Xác định một số yếu tố liên quan đến quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân của sinh viên tuổi 18- 24 đang học tại cơ sở 1 trƣờng Cao đẳng cộng đồng Đồng Tháp năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm chính của luận văn Vị thành niên - Thanh niên: Theo WHO, VTN-TN là ngƣời trong độ tuổi 10-19 còn Thanh niên là nhóm ngƣời trong độ tuổi 15-24 và những ngƣời trẻ tuổi trong 10-24 tuổi gọi chung là VTN-TN (10).
Theo hƣớng dẫn quốc gia về các dịch vụ CSSKSS của Bộ y tế thì Vị thành niên là nguời trong độ tuổi 10-18, ngƣời trong độ tuổi 16-24 gọi là thanh niên trẻ. Nhƣ vậy VTN-TN hay thanh thiếu niên dùng để nói đến ngƣời trong độ tuổi 10-24 (11, 12). Tại Việt Nam SV ở các trƣờng Đại học, cao đẳng đa phần ở lứa tuổi 18-24 do quy định của quốc hội về các cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông (13, 14) và một số ít HS-SV ngoài độ tuổi do các em đi học sớm hoặc trễ hơn so với tuổi qui định (13). Sức khỏe sinh sản: Theo WHO, “SKSS là tình trạng khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh hay khuyết tật của hệ cơ quan sinh sản” (11, 15).
Quan hệ tình dục (QHTD) (hay giao hợp) có thể diễn ra giữa 2 bạn tình khác giới hay cùng giới, với một ngƣời hay nhiều ngƣời. QHTD đƣợc hiểu là sự giao hợp giữa dƣơng vật, âm đạo, hậu môn hoặc đƣờng miệng (16). Nghiên cứu này chỉ tiến hành trên QHTD có thâm nhập còn các hành vi QHTD không thâm nhập nhƣ tự thủ dâm hoặc thủ dâm cho nhau, ôm ấp, vuốt ve,… sẽ không đƣợc sử dụng (12, 17). Quan hệ tình dục đồng giới (QHTDÐG): là tình trạng hai ngƣời cùng giới có xu huớng và sở thích quan hệ tình dục với nhau.
Ở nam giới gọi là đồng giới nam, ở nữ giới gọi là đồng giới nữ. Quan hệ tình dục trước hôn nhân: Là tình trạng nam, nữ có QHTD với bạn tình khi họ chƣa làm giấy kết hôn hoặc chƣa làm lễ cƣới. 5 Bạn tình: Đƣợc hiểu là những ngƣời tham gia vào các hoạt động tình dục với nhau, có thể là bất kỳ số ngƣời và giới tính nam hay nữ (12). Mại dâm: là hành vi QHTD ngoài hôn nhân, do một ngƣời vì thõa mãn nhu cầu tình dục mà phải trả tiền hay lợi ích vật chất khác để ngƣời khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi tình dục khác với mình, nhằm nhận tiền, lợi ích vật chất khác mà giao cấu hay thực hiện hành vi QHTD khác với ngƣời khác.
Nạo phá thai là chủ động dùng các phƣơng pháp khác nhau để chấm dứt thai kỳ. Có 2 cách phá thai: Phƣơng pháp ngoại khoa là hút chân không, nong và gắp, gây đẻ non; Phƣơng pháp thứ 2 là phá thai bằng thuốc hay còn gọi “phá thai nội khoa” là dùng thuốc uống gây sẩy thai (20, 21). Bệnh lây truyền qua đường tình dục: Là bệnh có khả năng truyền từ ngƣời này sang ngƣời khác khi có thực hiện hành vi tình dục, bao gồm cả giao hợp âm đạo, QHTD bằng miệng hay hậu môn (6). Biện pháp tránh thai (BPTT): là một phƣơng pháp hoặc thiết bị can thiệp tác động lên cơ thể hoặc bộ phận sinh sản nhằm ngăn cản sự thụ thai sau khi QHTD ở ngƣời phụ nữ (19).
Có các biện pháp tránh thai tạm thời và vĩnh viễn. Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cặp đến các biện pháp tránh thai tạm thời sử dụng cho lứa tuổi VTV- TN nhƣ: Bao cao su, Viên thuốc uống tránh thai kết hợp, Viên thuốc uống tránh thai chỉ có progestin, Thuốc tránh thai khẩn cấp, Dụng cụ tránh thai trong tử cung, Thuốc tiêm và thuốc cấy tránh thai, Biện pháp tránh thai tự nhiên (tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo) (22). Thực trạng quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân của sinh viên 1. Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trên thế giới QHTD THN của VTN-TN hay HS-SV rất khác nhau theo từng khu vực và quốc gia.
QHTD ở HS-SV không chỉ phổ biến tại các nƣớc phƣơng Tây (23), châu Mỹ la tinh và Châu Phi mà còn tại các nƣớc châu Á (24). Tại các nƣớc Châu Á, vấn đề QHTD THN ở HS-SV không quá phổ biến vì còn ảnh hƣởng của nền văn hoá phƣơng Đông, nhƣng tỷ lệ sinh viên có QHTD THN ngày một tăng trong các nghiên cứu gần đây. Vì thế số SV mang thai ngoài ý muốn, nạo hút thai và mắc các bệnh LTQĐTD cũng tăng theo (25, 26). 6 Tại các nƣớc phƣơng Tây, một cuộc giám sát về hành vi rủi ro của VTN-TN - Hoa Kỳ (2009) trên nhóm tuổi 10- 24 của Danice K Eaton và các cộng sự (27) cho thấy 34,2% học sinh phổ thông trên toàn quốc có QHTD thƣờng xuyên, trong đó 38,9% không sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất và 2,1% học sinh đã từng tiêm chích ma túy, tỷ lệ mắc bệnh và các vấn đề xã hội nghiêm trọng ở thanh niên cũng do mang thai ngoài ý muốn và các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục, bao gồm cả nhiễm HIV.
Cũng tại Mỹ, trong xuất bản năm 2007 quan sát xu hƣớng 50 năm cho thấy QHTD THN tại nƣớc phát triển này rất cao, có đến 75% ngƣời QHTD THN ở độ tuổi 20 (28). Tại các nƣớc đang phát triển ở châu Phi cận Sahara và phần lớn các quốc gia thuộc các khu vực khác, khoảng cách giữa tuổi QHTD lần đầu và tuổi kết hôn lần đầu đã tăng lên giữa các nhóm tuổi, dẫn đến khoảng cách ngày càng lớn ở tuổi giao hợp lần đầu và tuổi kết hôn (29). Ở 4 nƣớc vực cận Sahara VTN-TN chƣa kết hôn trong độ tuổi 18-19 có QHTD THN với tỷ lệ 50% (30). Tại một số nƣớc khác, VTN-TN cũng bắt đầu QHTD từ khá sớm.
Theo kết quả nghiên cứu của Z Iliyasu (2012) tiến hành tại Nigeria, tuổi VTN-TN nam có QHTD dao động từ 10-24 tuổi và tuổi trung bình QHTD lần đầu là 15,7 tuổi. Tuổi bắt đầu QHTD ở nữ dao động từ 10-18 tuổi và tuổi QHTD lần đầu trung bình là 16,1 tuổi. Sinh viên nam trả lời đã từng làm bạn gái có thai là 13% và 70% số đó đã giải quyết bằng nạo phá thai. Còn đối với các bạn nữ, 9% nữ sinh trả lời đã từng mang thai và 77% số đó cũng giải quyết bằng cách nạo phá thai, 7% sảy thai và 16% sinh con ngoài ý muốn (31).