mở đầu hay kết thúc một cuộc thoại thường là các cặp thoại thứ yếu. Khi nghiên cứu các loại cặp thoại này, mặc dù chúng không đóng vai trò lớn làm nên nội dung chính của hội thoại song lại rất có ý nghĩa khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phong tục, tập quán, tâm lý người sử dụng thông qua hội thoại. Tuy nhiên, trong các cuộc thoại không phải bao giờ cũng có đầy đủ cả cặp thoại chính yếu và thứ yếu; nhiều trường hợp các cặp thoại trong cuộc thoại đều bình đẳng với nhau, cùng nói về một chủ đề chung theo một đích nhất định. Cũng cần nói thêm rằng, trong - 18 - trường hợp này việc tổ chức, sắp xếp các cặp thoại rất có thể lại nhằm một ý nghĩa ngầm ẩn nào đó, ý nghĩa đó có thể nằm ngoài cấu trúc ngôn ngữ, thuộc về lĩnh vực xã hội, tâm lý… Xét về mối quan hệ giữa hai lượt lời trong cặp thoại, thường thì lượt lời thứ nhất sẽ có/đòi hỏi sự xuất hiện của lượt lời thứ hai tương ứng, “ưa dùng”, hoặc cũng có thể ngược lại xuất hiện lượt lời không như mong muốn là lượt lời “ít dùng”.
Những lượt lời “ưa dùng” thường gồm cấu trúc ngôn ngữ có tính khuôn mẫu, nghi thức thường thấy, thì ngược lại, lượt lời “ít dùng” thường có cấu trúc phức tạp hơn mà hiệu quả giao tiếp lại không cao. Tuy nhiên, loại lượt lời này còn được gọi là lượt lời “được đánh dấu” do nó có khả năng tiềm ẩn sự xuất hiện một cuộc thoại mới hoặc báo hiệu sự tiếp diễn của cuộc thoại. Cũng như vậy, lượt lời “ưa dùng” có thể gọi là lượt lời “không được đánh dấu” do nó báo hiệu sự kết thúc hoặc sắp kết thúc cuộc thoại đó. Trong thực tế hội thoại, những lượt lời ưa dùng thường thấy như: đề nghị - đáp ứng; xin lỗi - chấp nhận; mời - nhận lời…; trong khi đó những lượt lời “ít dùng” thường gặp như: yêu cầu - từ chối; buộc tội - thanh minh; ra lệnh - không thi hành… Bên cạnh các lượt lời chủ yếu như trên, trong thực tế giao tiếp còn có thể xuất hiện một loại lượt lời đặc biệt nữa, đó là lượt lời chêm xen.
Loại lượt lời này có thể có nội dung hoàn toàn không tương thích với chủ đề hội thoại song nó lại được coi là cần thiết trong những không gian và thời gian cụ thể nhất định. Việc tạo ra lời chêm xen có thể do người đang trực tiếp giữ lượt lời tạo nên, cũng có thể do người kia tạo nên, nhưng nó có tác dụng góp phần duy trì không khí hội thoại, hoặc để bào chữa cho một hiện tượng, sự kiện nào vừa chen ngang cuộc thoại, cũng có thể nó nhằm củng cố cho một nội dung được bàn đến trong hội thoại. Sự xuất hiện của những lời chêm xen này đặc biệt hữu ích trong trường hợp cuộc hội thoại giữa những người không đối diện trực tiếp, như gọi điện thoại,… Mặt khác trong nghiên cứu hội thoại, nhiều trường hợp lời chêm xen còn là dụng ý của người giao tiếp, là một trong các chiến lược giao tiếp quan trọng. Một số vấn đề về “phân tích diễn ngôn hội thoại” 1.
Ngữ cảnh Có thể nói, ngữ cảnh là một trong những nhân tố giao tiếp quan trọng không thể bỏ qua trong phân tích diễn ngôn, đặc biệt là phân tích diễn ngôn hội thoại. Cho đến nay cũng còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về ngữ cảnh. Theo tác giả David Nunan, ngữ cảnh có nhiệm vụ - 19 - quy chiếu tình hướng gây ra diễn ngôn và tình huống trong đó diễn ngôn được gắn vào. Theo đó ngữ cảnh bao gồm hai kiểu: một là ngữ cảnh ngôn ngữ, tức là gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ bao quanh hoặc đi kèm với sản phẩm diễn ngôn đang được phân tích; hai là kiểu ngữ cảnh phi ngôn ngữ, bao gồm tất cả các yêu tố ngoài ngôn ngữ tạo nên môi trường nền rộng mà diễn ngôn xuất hiện như các kiểu sự kiện giao tiếp, đề tài, mục đích giao tiếp, những người tham dự… và những hiểu biết cơ sở, những giả định làm cơ sở cho sự kiện giao tiếp.
Một tác giả khác cũng dành nhiều thời gian nghiên cứu về Dụng học và phân tích hội thoại, tác giả Nguyễn Thiện Giáp thì lại chủ trương phân biệt ngữ cảnh với hoàn cảnh nói năng. Theo đó, tác giả quan niệm rằng, ngữ cảnh là những từ bao quanh hay đi kèm theo một từ, tạo cho nó tính xác định về nghĩa; trong khi đó, hoàn cảnh nói năng lại được hiểu là tình huống, bối cảnh phi ngôn ngữ mà từ xuất hiện: được giải thích bằng các thông số như ai nói, nói bao giờ, nói ở đâu, nói với ai và vì sao nói. Ngoài ra, còn có một nhóm các tác giả quan niệm ngữ cảnh bao gồm ngữ cảnh tình huống (context of situation) và ngữ cảnh văn hoá (context of culture). Trong đó, ngữ cảnh tình huống được hiểu là ngữ cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ, của một trường hợp văn bản cụ thể.
Nói cách khác, ngữ cảnh tình huống chính là thế giới xã hội, tâm lý mà trong một thời điểm nhất định ở đó người ta sử dụng ngôn ngữ. Ngữ cảnh tình huống có thể bao gồm sự hiểu biết về vị thế của những người tham gia giao tiếp, sự hiểu biết về không gian, thời gian giao tiếp, đồng thời nó còn bao gồm cả sự chấp nhận ngầm của các bên tham gia giao tiếp về tất cả những quy ước, tiền đề… được coi là đương nhiên trong cộng đồng có người nói và người nghe. Khác với tất cả những yếu tố trên, ngữ cảnh văn hoá được hiểu là phân tích ngữ cảnh của ngôn ngữ với tư cách một hệ thống, điều đó cũng có nghĩa là ngữ cảnh văn hoá sẽ bao gồm hàng loạt các nhân tố văn hoá bên ngoại sự kiện giao tiếp như phong tục, tập quán, các chuẩn mực xã hội, lịch sử, tri thức nền về tự nhiên, chính trị…; tức là toàn bộ những yếu tố tạo nên nền văn hoá của cộng đồng dân tộc của các bên tham gia giao tiếp và của sự kiện ngôn ngữ đang diễn ra. Như vậy có thể thấy, các tác giả theo hướng này đều cho rằng ngữ cảnh tình huống hay ngữ cảnh văn hoá đều là những hiện tượng phi ngôn ngữ.
Cũng bởi vậy, người ta chú ý đến một khái niệm nữa là văn cảnh. Theo đó văn cảnh được hiểu là các yếu tố ngôn ngữ bao quanh hoặc đi kèm với hiện tượng ngôn ngữ đang xét. Tức là nếu ta xét một từ thì văn - 20 - cảnh của nó sẽ là các từ bao quanh nó; nếu ta xét một câu thì văn cảnh của nó sẽ là những câu đằng trước hay theo sau nó. Tác giả Đỗ Hữu Châu khi bàn đến khái niệm ngữ cảnh còn đưa ra một khái niệm “ngữ huống giao tiếp”.
Theo tác giả, ngữ cảnh là một khái niệm động, do đó khi tất cả các yếu tố tạo nên ngữ cảnh có sự tác động tổng hợp ở vào một thời điểm nhất định của cuộc giao tiếp và được nhân vật giao tiếp ý thức được thì tạo nên ngữ huống giao tiếp. Thông qua ngữ huống mà ngữ cảnh chi phối diễn ngôn; có thể nói rõ hơn tức là, bất kỳ sự thay đổi nào của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh được người đang giao tiếp chú ý và hành động theo thì sẽ tạo nên ngữ huống giao tiếp. Bên cạnh đó, tác giả này cũng quan niệm ngữ cảnh được hiểu theo nghĩa khá rộng: ngữ cảnh bao gồm các nhân tố có mặt trong một cuộc thoại nhưng nằm ngoài diễn ngôn. Theo đó, ông cho rằng ngữ cảnh sẽ bao gồm rất nhiều yếu tố như nhân vật giao tiếp, hiện thực ngoài diễn ngôn (đề tài diễn ngôn - thế giới khả hữu và hệ quy chiếu, hoàn cảnh giao tiếp, thoại trường, ngữ huống giao tiếp).
Đến đây có thể thấy, mặc dù là một khái niệm quan trọng và thường gặp trong phân tích diễn ngôn, song ngữ cảnh vẫn được quan niệm theo nhiều hướng khác nhau tuỳ theo góc độ của người nghiên cứu. Tuy nhiên tựu trung lại có thể hiểu ngữ cảnh theo hai cách: Theo nghĩa rộng, ngữ cảnh bao gồm toàn bộ các yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ bao quanh, làm nền và cũng quy định sự xuất hiện và tồn tại của sự kiện giao tiếp; và theo nghĩa hẹp, ngữ cảnh chỉ được hiểu là toàn bộ các yếu tố ngôn ngữ bao quanh hay đi kèm theo sự kiện ngôn ngữ đang được xét. Như vậy, tuỳ theo mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và góc độ nghiên cứu mà có thể lựa chọn và sử dụng khái niệm ngữ cảnh theo những cách khác nhau. Đặc điểm các nhân vật giao tiếp Trong một cuộc thoại, nhân vật giao tiếp có thể được hiểu là những người tham gia giao tiếp, tương tác với nhau bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, phát ngôn của cuộc thoại.
Các nhân vât giao tiếp sẽ được xác định vai giao tiếp ngay từ khi bắt đầu cuộc thoại, và đặc điểm các vai giao tiếp này có thể được thay đổi trong tiến trình hội thoại. Các nhân vật giao tiếp được quy định, ràng buộc lẫn nhau bởi một quan hệ chặt chẽ, đó là quan hệ liên nhân. Mối quan hệ này được xét theo hai trục, đó là trục dọc - trục vị thế xã hội (còn gọi là trục quyền lực) và trục ngang - trục thân sơ. Trước hết, ta cần biết rằng vị thế xã - 21 - hội của nhân vật giao tiếp được xác lập bằng các nhân tố khách quan như tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, chức vụ… Trong thực tế hội thoại, rất nhiều trường hợp tất cả các giá trị trên trục này đều xuất hiện đồng thời quy định việc sử dụng, tạo lập ngôn ngữ của nhân vật giao tiếp.
Do đó, vấn đề được đặt ra là cần ưu tiên giá trị nào trước, hay nói cách khác là sắp xếp các hệ giá trị theo thứ bậc. Điều này không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan giữa các nhân vật giao tiếp trong phạm vi hẹp mà nhiều khi nó còn phụ thuộc vào cả một ngữ cảnh văn hoá rộng, các chế định, quy ước xã hội của cộng đồng bản ngữ mà các nhân vật giao tiếp thuộc về. Ví dụ đối với người Việt, khi các giá trị cùng xuất hiện đồng thời thì yếu tố tuổi tác thường được đề cao, đó là do văn hoá Việt chú trọng “kính lão đắc thọ”; trong khi đó đối với người phương Tây thì giá trị này chỉ có tính chất thứ yếu.