Chương 1: Tổng quan về Hệ thống DNS và Hệ thống số điện tử. Chương này giới thiệu tổng quan về hệ thống máy chủ tên miền DNS, các chuẩn đánh số điện thoại và hệ thống số điện tử (ENUM), sự liên quan giữa hệ thống số điện tử và hệ thống máy chủ tên miền (DNS). Tại đây cũng trình bày sự cần thiết và xu thế phát triển của hệ thống tích hợp ENUM và DNS cũng như giới thiệu về các ứng dụng sử dụng ENUM và báo cáo về tình hình phát triển ENUM ở một số quốc gia. - Chương 2: Thiết kế xây dựng hệ thống tích hợp DNS và ENUM trong các ứng dụng hội tụ mạng viễn thông và Internet.
Chương này đi vào giới thiệu chi tiết về các kiến trúc và nguyên tắc hoạt động của các hệ thống số điện tử và hệ thống DNS, các thành phần hệ thống, việc tương tác, kết hợp giữa các bản ghi dịch vụ tên miền thuần túy và các loại bản ghi sử dụng cho hệ thống tích hợp ENUM cùng việc đánh giá khả năng áp dụng thực tiễn của các loại hình dịch vụ hội tụ này. - Chương 3: Thiết kế thực hiện mô hình thử nghiệm ứng dụng hệ thống tích hợp ENUM và DNS. Chương này tập trung trình bày việc xây dựng, triển khai các hệ thống tích hợp DNS và ENUM để cung cấp dịch vụ điện thoại trên nền giao thức IP, phát triển chương trình nhúng thường trú vào một trình duyệt Web sẵn có để có thể truy nhập Website thông qua số ENUM nhằm kiểm tra tính khả thi và đánh giá khả năng áp dụng hệ thống tích hợp hội tụ ENUM và DNS tại Việt Nam. - Phần kết luận: Tóm tắt nội dung luận văn, các hướng đề xuất nghiên cứu tiếp theo cho luận văn.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DNS VÀ HỆ THỐNG SỐ ĐIỆN TỬ 1. Hệ thống DNS và hệ thống số điện tử DNS là một dịch vụ truy vấn có cấu trúc phân tán, mục đích chính của nó là sử dụng để truy vấn địa chỉ IP từ một tên miền. Còn số điện tử ENUM, theo như định nghĩa trong RFC29161 thì được sử dụng để ánh xạ số điện thoại theo chuẩn E.164 của ITU-T vào DNS. Giới thiệu về hệ thống DNS Trong hệ thống Internet truyền thống, DNS được coi là một thành phần mang tính chất quyết định, được sử dụng như cơ sở hạ tầng cho việc ứng dụng đại đa số các thủ tục khác.
Sở dĩ như vậy là vì đối với mọi loại dịch vụ được người dùng Internet sử dụng, "địa chỉ" nguồn, đích, hệ thống dịch vụ, gateway. là các yếu tố then chốt. Chỉ với việc sử dụng hệ thống DNS thì việc sử dụng địa chỉ IP, vốn là những con số khó nhớ, khó kiểm soát mới trở nên dễ dàng và có khả năng ứng dụng cao. Ngoài ra, hệ thống DNS được xây dựng với một cấu trúc phân tán, có khả năng mở rộng gần như không giới hạn.
Với các thủ tục truy vấn đã được phát triển và hoàn thiện qua thời gian dài có tốc độ truy vấn cao và dễ ứng dụng, dịch vụ DNS đã trở thành dịch vụ tiêu chuẩn. Trung bình với mỗi phiên làm việc của 1 dịch vụ bất kỳ thường cần đến ít nhất 3 truy vấn DNS. Đối với các dịch vụ như HTTP (dịch vụ duyệt Web) thì số truy vấn còn nhiều hơn do các liên kết trong các bản tin HTML có rất nhiều tham chiếu tới các địa chỉ Web khác. Tại sao lại cần sử dụng hệ thống DNS? Như chúng ta đã biết Internet là một mạng máy tính toàn cầu, do hàng nghìn mạng máy tính từ khắp mọi nơi nối lại tạo nên.
Khác với cách tổ chức theo các cấp: nội hạt, liên tỉnh, quốc tế của một mạng viễn thông (như mạng điện thoại chẳng hạn), mạng Internet tổ chức chỉ có một cấp, các mạng máy tính dù nhỏ, dù 1 RFC2916: E.164 number and DNS 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lớn khi nối vào Internet đều bình đẳng với nhau. Do cách tổ chức như vậy nên trên Internet có cấu trúc địa chỉ, cách đánh địa chỉ đặc biệt và rất khác với cách tổ chức địa chỉ của mạng viễn thông. Ví dụ như một địa chỉ IPv4 203.101 được biểu hiện ở dạng thập phân đầy đủ là 12 chữ số và được chia thành 4 octet (tổng cộng 32 bít), mỗi octet được tách biệt nhau bằng dấu chấm (.); địa chỉ IPv6 thì còn dài hơn bao gồm tổng cộng 128 bít - dài gấp 4 lần địa chỉ IPv4 và các octet bao gồm cả những chữ số và chữ cái biểu diễn dưới dạng số HEX. Thực tế mọi yêu cầu truy nhập một máy chủ bất kỳ đều có thể được thực hiện thông qua địa chỉ IP của máy chủ đó.
Tuy nhiên để người sử dụng nhớ được dãy địa chỉ dạng số dài như vậy khi truy nhập, kết nối mạng là hết sức khó khǎn. Chính vì thế, cạnh địa chỉ IP bao giờ cũng có thêm một cái tên đi kèm mang một ý nghĩa nào đó, dễ nhớ cho người sử dụng mà trên Internet gọi là tên miền (Domain Name), ví dụ như www. Nhờ vậy, người sử dụng không cần biết đến địa chỉ IP mà chỉ cần nhớ tên miền là truy nhập máy chủ được. Thực chất, tên miền là sự nhận dạng vị trí của một máy tính trên mạng Internet và nói cách khác tên miền là tên của các mạng lưới, tên của các máy chủ trên mạng Internet.
Để quản lý được, chuyển đổi được giữa các tên miền và các địa chỉ IP như đã nói ở trên, hệ thống DNS được ra đời và gắn liền với lịch sử phát triển của mạng Internet. Tổ chức của hệ thống DNS Hệ thống DNS - là tập hợp của rất nhiều các máy chủ quản lý tên miền - dns theo từng khu vực, theo từng mức và nằm phân tán trên mạng Internet. Các máy chủ này thực hiện đồng thời cả hai chức nǎng: dịch từ tên miền sang địa chỉ IP thể hiện bằng con số và ngược lại bởi vì người sử dụng thì dùng tên miền cho dễ nhớ, còn máy tính, thiết bị mạng như Router lại cǎn cứ vào địa chỉ IP để xử lý. Mỗi một dns, theo từng khu vực, theo từng mức (ví dụ: một trường đại học, một tổ chức, một công ty hay một bộ phận nào đó trong công ty) phải đảm bảo thông tin dữ liệu riêng về địa chỉ và tên miền trong khu vực, trong mức mà nó quản lý 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng thời phải chạy một chương trình để các máy chủ quản lý tên miền khác trên Internet có thể hỏi được thông tin.
Vì lý do đó, hệ thống các dns phân tán này có khả năng liên kết với nhau trở thành 1 hệ thống thông tin tích hợp, có thể mở rộng tới toàn cầu, toàn mạng Internet. Root Node "" Top Level Domain Top Level Domain Top Level Domain (e.us) Second Level Domain Second Level Domain Second Level Domain Second Level Domain (e.jp) Third Level Domain Third Level Domain Third Level Domain Third Level Domain (e.jp) Fourth Level Domain (e. Cấu trúc phân tầng quản lý hệ thống DNS Để có thể phân tán hệ thống DNS toàn cầu đồng thời đảm bảo được các công tác phân cấp quản lý và sử dụng hệ thống DNS, cơ sở dữ liệu hệ thống DNS được phân tầng quản lý như biểu đồ cấu trúc ở trên. Trong đó các tổ chức khác nhau được phân cấp (hay còn gọi là chuyển giao) các tên miền ở một cấp nhất định và có thể phân cấp (chuyển giao) lại các tên miền cấp dưới của mình cho tổ chức khác.
Về cơ bản từ mức thấp nhất cho đến mức cao nhất, mỗi một mức tên miền đều có các dns quản lý tên, địa chỉ trong mức ấy, trong khu vực ấy. Một thông tin về địa chỉ hay tên miền nào đó mà dns không trả lời được nó sẽ hỏi lên dns cấp cao hơn. Tầng ROOT cũng có dns, tuy nhiên không phải dns nào cũng biết liên lạc với tất cả các dns khác nhưng nó phải biết cách liên lạc tới dns của ROOT. Trên thế giới có 13 dns của ROOT và tất cả các dns của các cấp thấp ít nhất phải biết đường liên lạc tới một trong số 13 dns của ROOT.
Quản lý tên miền bao giờ cũng phải cần tối thiểu 2 máy chủ dns, máy chính gọi là primary dns và máy phụ là secondary dns làm nhiệm vụ dự phòng, thông tin khai báo cho các tên miền chứa trong 2 máy này phải giống hệt nhau. Thông tin 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được lưu giữ, cập nhật, thay đổi trong máy chính và theo định kỳ (thông thường là 3 giờ một lần) máy phụ sẽ hỏi máy chính, nếu có thông tin mới hay thông tin đã bị thay đổi trong máy chính, máy phụ sẽ tự động cập nhật về. Quá trình cập nhật này gọi là Zone Transfer. Cơ sở của DNS là một hệ thống cơ sở dữ liệu, được phân nhóm dựa trên các miền dữ liệu (domain).
Với các dịch vụ Internet truyền thống, các miền này là các tên miền như. Trong mỗi miền đó có các dữ liệu con như "www", "mail", "ftp". và ứng với mỗi tên miền con có thể có nhiều các bản ghi dữ liệu. Điểm mạnh của DNS là ở chỗ các bản ghi dữ liệu có nhiều dạng khác nhau và dễ dàng được khai báo thêm các định dạng mới, với các cấu trúc dữ liệu mới.
Ví dụ bản ghi khai báo cho các máy chủ thường có dạng: www.102 Trong khi bản ghi đối với dịch vụ email có dạng vnnic. IN MX 10 mail. hay bản ghi đối với dịch vụ ENUM có dạng 4. IN NAPTR 10 10 "u" "sip+E2U" "!^.*$!sip:tantm@vnnic.
Có thể thấy, các cấu trúc dữ liệu là rất khác nhau và được định nghĩa tùy theo các yêu cầu cụ thể của thủ tục, ứng dụng sử dụng. Yếu tố quyết định ở đây là trường kiểu dữ liệu (record type) trong các bản ghi (như A, MX, NAPTR trong các ví dụ trên). Ứng dụng cũng có thể lựa chọn để nhận được dữ liệu ứng với 1 kiểu bất kỳ, hoặc cũng có thể lựa chọn để nhận tất cả các dạng bản ghi. Hệ thống DNS cũng có thể chỉ thị các tham chiếu để ứng dụng truy vấn các miền khác, hoặc các máy chủ khác nếu cần (cơ chế chuyển giao - delegation).
Để tăng cường độ sẵn sàng của dịch vụ và phân bố tới mọi nơi trên thế giới một cách hiệu quả nhất, các máy chủ DNS cho toàn mạng được phân tán rộng khắp một cách mềm dẻo.