CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE CÔNG NGHỆ THỊ CÔNG TƯỜNG TRONG DAT 1. Giới thiệu vé tình hình xây dựng tường trong đắt ở Việt Nam và trên thể giới Trước đây, để xây dựng các công trình ngằm, người ta thường dùng các phương pháp. xây dựng đất tiên như dio hở, đồng cọc cử, hạ mực nước ngằm, đông bing đít,. mà chiều sâu không được lớn, làm ảnh hướng tới các công trình lân cận khi xây dựng trong thành phố.
Từ sau năm 1940, công nghệ thi công "tường trong dit” được bit đầu nghiên cứu ấp dung và vào những năm 1970 của thé ky XX công nghệ này được áp dụng rộng rãi trên toàn thể giới, điều đố tạo điều kiện cho việc hoàn th quy tinh công nghệ và tính toán kết edu, Đây là một tong những công nghệ th công tiễn bộ nhất đ xây dựng các công trinh ngẫm và là công nghệ tốt nhất để xây dựng các công ình ngằm có độ sâu lớn trong các thành phố có mật độ xây dụng dày đặc như hiện nay. Trên thể giới, áp dụng công nghệ thi công tường trong đất đẻ xây dựng các công trình ngằm trong các khu đô thị là rit phổ biển như: ~ Tại thành phố Tokyo (Nhật Bản) các nhà cao ting phải có ít nhất từ 5 đến 8 tng him. “Tại Thượng Hải (Trung Quốc) thường thấy có 2 đến 3 ting him dưới mặt dit ở các nhà cao tng, có nhà đã thiết kế đến 5 tng him có kích thước lớn nhất đến (274 x 187) 1m, kết cầu chin giữ sâu đến 32 m. ~ Tại Matxeơva (Nga) đã xây dựng garage có kích thước (156 x 54) m, sâu 27m.
~ Tại Geneve (Thuy si một garage ngằm 7 ting sâu 2§ m đã được xây dựng Tai Vigt nam, công nghệ thi công tring trong đất cũng được áp dụng rất hiệu quả trong việc xây dựng các công trình ngim nhằm đáp ứng nhủ cầu sử dụng không gian trong lòng đắt ở các thành phổ đông dân cr với điều kiện dia chất và địa chất thuỷ văn rit phúc tạp để để giả quyết các vin đề iền quan đến giao thông đổ thị, xây dựng các garage 6 ô, nhà cao ting trong thành phổ, các khu đô thi mới, hạ ting các khu công nghiệp. ví dụ như: + Toà nhà Harbour View Tower ở thành phổ Hồ Chí Minh 19 ng lậu và 2 ting him, có. giữ sâu 10 m, đã dùng tường trong đất sâu 42 m dày 0,6 m vay cquanh mặt bằng kết cầu chắn giữ 25x27 m ~ Trụ sở Vieteombank Hà Nội cao 22 ting và 2 ting him có kết cầu chắn giữ sâu 11 m dang tường trong đất sâu 18 m dày 0. ~ Nhà máy Apatit Lào Cai, nhà máy xi ming Bim Sơn hay nhà máy nhiệt điện Pha Lại 44 có những kho, him tuy nen vận chuyển nguyên liệu đặt sâu trong đt từ 5 đến 20 m.
Tổng quan về các dang kết cầu trờng trong đất * Tường trong đất cô nhiều loại được phân chia theo các tiêu chí khác nhau (vi dự tường trọng lực, tưởng công xôn, tường cứng, tường mềm. ngoài ra cũng có các kiểu đặc biệt như tường làm từ các hàng cọc liên tiếp hay cách quãng, tưởng trong đất dự. ứng lực), * Tường tong đắt để làm ting him nhà cao ting, thường là tường bê tông đỗ tại chỗ, đầy 600-800 mm để chin giữ dn định hồ móng sâu trong quá trink thi công. Tưởng được làm từ các đoạn cọc barete, tiết diện chữ nhật, chiéu rộng thay đổi từ 2,6 m đến 5,0 m.
Các đoạn cọc barrette được liên kết chống thắm bằng gioăng cao su, thép và lim việc đồng thời thông qua dim định tưởng và dim bo dat áp sit trồng phía bên trong ting him, Trong trường hợp 02 ting him, tường trong dat thường được thiết kế 6 chiều sâu 16 ~ 20 m tuỷ thuộc vào địa chất công trình và công nghệ thi công. Khi tưởng trong đắt chị tải trọng đứng lớn thi tường được thiết kế dài hơn, có th di trên 40 m dé chịu tải trong như cọc khoan nhồi. * Tường trong dắt thường được sử dụng khi làm hồ móng sâu trên 10 m, yêu cầu cao về chống thắm, chống lún và chống chuyển địch của các công trình xây dựng lân cận. hoặc khi tưởng là một phần của kết cầu chính của công trình hoặc khi áp dụng công nghệ Top - down * ƯA điểm: Tưởng trong đất có các kết cầu dang tường cổ tác dụng vừa chin giữ vừa chịu lực của phần công tình nằm dưới mặt đt.
Kết cắu dạng tường trong đất có các ưa điểm - Thi công được các công trình ng: n có độ sâu lớn; ~ Ap dụng trong mọi điều kiện dja chất, đặc biệt trong các vùng đất yếu, mực nước ngằm cao; ~ La big pháp thi công duy nhất ly dụng trong đi k thành phố chật hẹp, khi điều kiện thi công hạn chế chin động, tiéng dn, biển dang lún, các công trình xây dựng và đường dng ngim ở lần cận xung quanh: ~ Giảm khối lượng th công. tang tốc độ thi công, hạ thấp gi thinh công nh: ~ Tường vừa có thể dùng làm kết cấu bao che ở độ sâu lớn lại có thể kết hợp làm kết sấu chịu lực, lâm móng cho công trình trong những điều kiện nhất định: ~ Ưu điểm nỗi bật là độ cứng lớn, chống thấm tốt, giúp cho công nghệ này được. lựa chọn sử dụng ở nhiễu công trình trong những năm gin đầy * Nhược điểm: ~ Phương pháp thi công tường trong dit yêu cầu v8 máy móe, trang thit bị th công đồng bộ cao, mỗi loại tường cin một loi thiết bị thi công phủ hop vì vậy đôi hỏi đầu ‘tur ban đầu lớn. loại kết cầu chỉ ph hợp với một số chiễu sâu hỗ đảo và loại địa chất nhất định, vì vậy việc lựa chọn kết cấu tường không phù hợp có thể làm ảnh hưởng rt lớn đến độ thành thi công, lệc sử lý thu hồi vữa bentonite không những làm tăng chỉ phí cho công trình ma khi ÿ thuật phân ly vữa bentonite không chặt chẽ hoặc xử lý không đúng kỹ thuật sẽ lảm.
cho môi tưởng bị ô nhiễm, ~ Do trong quá trình thi công, các lớp đắt có kẹp lớp đất cát tơi xốp, mm yếu mà tính chất dung dịch giữ thành không thích hợp hoặc đã bị in chit din đến sạt lỡ thành hào làm cho thé tích bể tông tưởng tăng lên đáng kể, mặt tường bị lồi lõm, thước kết cấu vượt quá giới hạn cho phép. * Phạm vi ứng dụng: Thực tỄ xây dựng trên th giới và ở Việt Nam cho thấy phương pháp thi công tường trong dat có thể áp dụng hiệu quả khi xây dựng các loại công trình. ~ Các công trinh dân dụng có phần ngằm như: game, trung tâm thương mại, kho chứa, rạp chiều phim, nhà hat; phần ngầm các nhà cao ting như móng, các tường chắn kết «chin giữ những tòa nhà được xây dựng gần những công trình có sẵn ~ Các công trình công nghiệp như phân xưởng nghién của nhà máy làm giảu quặng, sắc phân xưởng đc tp liên tụ, các hỗ nhận nguyễn iu, các phễn đỡ chất, ~ Các công trình thuỷ lợi: đề, Ke s ke bi edu cảng, các trạm bơm, các công trình. = Các công trình giao thông như him giao thông đặt nông, các móng trụ cầu, ~ Các sông trình quân sự và công trình din sự có kết hợp phòng thủ khi có chiến tranh xây a, Thực tẾ những công trình xây dựng trong cúc điều kiện dui đây sẽ cỏ hiệu quả ‘cao nhất khi sử dụng tường trong dat: Trong điều kiện địa chất thủy văn phức tạp, mực.
nước ngằm cao, nhất là gặp ting nước ngằm có ấp: khi xây đụng các công trinh ngằm và tường chắn kết cấu chin giữ trong điều kiện xây chen trong thành phổ, gần các sông trình đã có: công nghệ tường trong đất cho phép thiết kế các công nh ngằm có hình dang bắt kỷ trên mặt bằng, giảm chiều diy tưởng và loại trừ được công tắc hit và hạ mực nước ngằm. - Tưởng trong dit có thể sử dung đồng thời lim mỏng chịu ải trong phần trên rong những điều kiện sau: Tường tựa trên đ cứng hoặc đất tt, ức là khi tường có thể làm việc như vách; tường được xây dựng gần sắt liền với mỏng của những nhà đã có, mà độ ban của những móng này có thể bị phá hoại khi xây dựng các móng cọc đóng * Tường chắn bằng cọc trộn xi mang - đất - Tường chin bằng cọc trận xi mang đất một công nghệ mới dé gia cổ nên đt yếu, m dụng xi ming, vôi,. để làm chất đóng rắn, lợi dụng một loạt phản ứng hóa học xảy ra. iữa chất đồng rin với đắt làm cho đất đồng rin lại thành một thể cọc có dang tường én định và cổ cường độ nhất định ~ Uu điểm của công nghệ này là kính t, thỉ công nhanh, không có chất thi, lượng xỉ măng khống chế điều chỉnh chính xác, không cỏ độ lớn thứ cắp (nếu làm nn) không gây đao động đến công trinh lin cận, thích hợp với đất có độ âm cao (75%).
Kết cầu loại này không thắm nước không phải đặt thanh chống tạo điều kiện cho đảo kết cầu chin giữ urge đễ ding, hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên chi phủ hợp với hỗ đào có chiều sâu từ 5 — “7m, không phủ hợp với những hồ đảo có chiều sâu lớn hơn. ~ Công nghệ trộn dưới sâu thích hợp với các loại đắt được hình thành từ các nguyên nhân Xhác nhau như đất sét dẻo bão hòa, bao gồm bùn nhão, đất bàn, đất sốt và đất sét bột ~ Ngoài chức năng giữ 6n định thành hồ đào, cọc trộn xi mang đất còn được sử dụng trong các trường hợp sau: Giảm độ lún công trình; tăng khả năng chống trượt mái dốc; tăng cường độ chịu tii của nền dit; giảm ảnh hưởng chấn động đến công trình lân cận; tránh "hiện tượng hóa lỏng của đắt rời; cô lập phần đắt bị 6 nhiễm. - Công nghệ này xuất hiện đầu tiên tại Mỹ sau đó được một số nước như Nhật Bản, Trung 'Quốc phát triển.
Tại Việt Nam đầu những năm 80 kỹ thuật này của hãng Linden - Alimak đã được áp dụng lim cọc ximing - vi đất đường kính 40 cm, sâu 10 m cho các công tình nhà 3 ~4 ting, hiện nay Linden - Alimak và Hercules (Thuy Điển) liên doanh lam loại cọc ny sâu đến 20 m bằng hệ thống tự động từ khâu khoan, phun xi măng và tộn tại khu công nghiệp Trả Nbc (Cin Thơ). * Tường chắn bằng cọc hing Hình 1.