Chương 1: Cơ sở lý luận về phương pháp so sánh trong định giá bất động sản - Chương 2: Thực trạng vận dụng phương pháp so sánh trong định giá bất động sản tại Vietinbank AMC - CN Hà Nội - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phương pháp so sánh trong định giá bất động sản tại Vietinbank AMC - CN Hà Nội 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƢƠNG PHÁP SO SÁNH TRONG ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN 1.1 Tổng quan về các phƣơng pháp định giá bất động sản 1.1 Khái niệm định giá bất động sản 1.1 Khái niệm Bất Động Sản là một hàng hóa đặc biệt, giá trị của bất động sản không thể xác định bằng cách đem so sánh một cách ngẫu nhiên ở trên thị trường, không thể khẳng định giá trị của bất động sản bằng cách khảo giá một món hàng ngoài chợ hay trong siêu thị, càng không thể coi bất động sản như một món hàng sản xuất hàng loạt để dễ dàng nhận định giá trị của nó. Bất động sản đặc biệt như vậy bởi lẽ đất đai cấu thành lên bất động sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Bản thân đất đai lại có giá trị rất lớn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như kinh tế, chính trị, xác hội. Mỗi yếu tố ở thời điểm khác nhau tác động tới bất động sản khác nhau và vì thế mà giá trị của nó ở mỗi thời điểm khác nhau cũng không cố định.
Nhìn chung đất đai, bản thân nó lại là vấn đề nhạy cảm hơn nữa với tài sản gắn liều với đất như nhà cửa, kho tàng thường có giá trị về kinh tế, văn hóa, lịch sử… Điều đó nói lên rằng chúng ta không thể mang một bất động sản ra cân, đo, đong, đếm như một hàng hóa thông thường để gán giá trị cho nó. Định giá bất động sản là việc ước tính giá trị của quyền sở hưu bất động sản cụ thể bằng hình thức tiền tệ cho một mục đích đã được xác định rõ trong những điều kiện cụ thể và trên một thị trường nhất định với những phương pháp phù hợp. Theo luật kinh doanh bất động sản thì định giá BĐS là hoạt động tư vấn, xác định giá cả của một BĐS cụ thể tại một thời điểm xác định. Việc định giá bất động sản phải dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật, tính chất, vị trí, quy mô, thực trạng của bất động sản và giá thị trường tại thời điểm định giá 5 1.2 Điều kiện để BĐS trở thành tài sản đảm bảo tại các NHTM Các NHTM thường nhận BĐS làm tài sản bảo đảm dưới hình thức thế chấp và quản lý BĐS bằng các nghiệp vụ quản lý tài sản thế chấp.
Thế chấp BĐS là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng BĐS thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao BĐS đó cho bên nhận thế chấp, trong trường hợp thế chấp BĐS làm tài sản bảo đảm để vay vốn ngân hàng thì bên nhận thế chấp là NHTM. Sau khi thế chấp, bên thế chấp vẫn được quyền sử dụng, khai thác công dụng của BĐS thế chấp đồng thời có nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn BĐS thế chấp. NHTM, với vai trò là bên nhận thế chấp, chỉ đăng ký thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền và giữ các giấy tờ (bản gốc) về BĐS thế chấp như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, v.v… Đồng thời, theo định kỳ, NHTM sẽ thực hiện khảo sát, kiểm tra lại BĐS thế chấp xem giá trị của chúng có thay đổi hay không, chúng có đang được sử dụng đúng mục đích hay có thay đổi gì hay không. Tuy nhiên trước khi nhận một BĐS làm tài sản bảo đảm để thế chấp vay vốn, các NHTM phải có sự đánh giá tổng quan về BĐS đó, tiến hành việc khảo sát, phân tích rồi mới đưa ra quyết định.
Đánh giá tổng quan: Đánh giá tổng quan về BĐS là đánh giá các đặc điểm cơ bản về pháp lý, về kinh tế kỹ thuật của BĐS như BĐS là loại hình gì, đất ở, đất giao hay đất thuê, thời hạn lâu dài hay có giới hạn, công trình xây dựng dở dang hay đã hoàn thiện v.v… xem có đủ điều kiện nhận làm tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật, của NHTM đó hay không. Khảo sát và thu thập thông tin: Sau khi đã có đánh giá tổng quan và xác định BĐS đủ điều kiện nhận làm tài sản bảo đảm, NHTM sẽ lên lịch hẹn với khách hàng để tiến hành khảo sát hiện trạng và thu thập thông tin. Khảo sát 6 hiện trạng của BĐS để nắm được địa chỉ, vị trí, hướng, hình dáng, kích thước của thực tế của BĐS, rồi so sánh với các thông tin trên hồ sơ pháp lý để xác định mức độ phù hợp giữa thực tế và pháp lý, khẳng định được hồ sơ pháp lý mà khách hàng cung cấp chính là của BĐS mà họ chỉ dẫn, hay nói một cách khác là khẳng định được BĐS là có thực. Ngoài ra, khảo sát thực trạng còn để xem xét chi tiết bên ngoài và bên trong BĐS, bao gồm diện tích đất và công trình kiến trúc; khung cảnh xung quanh, cơ sở hạ tầng như hệ thống cấp thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc viễn thông, hệ thống điện, đường giao thông, rồi loại kiến trúc, mục đích sử dụng hiện tại, tuổi đời, tình trạng duy tu, sửa chữa… phục vụ cho việc phân tích sau này; đồng thời chụp ảnh BĐS từ toàn cảnh đến chi tiết theo nhiều hướng khác nhau phục vụ việc lưu trữ chứng cứ.
Thông tin thu thập được từ việc khảo sát hiện trạng là cần thiết nhưng chưa đầy đủ để phân tích, do vậy NHTM còn phải thu thập các thông tin khác như: thông tin về tranh chấp, tịch thu, kê biên, giải tỏa của BĐS; thông tin về những yếu tố tự nhiên, môi trường, kinh tế xã hội như địa chất, bản đồ địa chính, quy hoạch, biên giới hành chính, cơ sở hạ tầng. của khu vực BĐS tọa lạc cũng như các khu vự lân cận; thông tin thị trường trong khu vực như chi phí, giá bán, lãi suất, thu nhập của các BĐS, yếu tố cung cầu, các giao dịch… NHTM thường thu thập thông tin từ các nguồn: khảo sát thực địa; những giao dịch mua bán BĐS (giá chào, giá trả, giá thực mua bán, điều kiện mua bán, khối lượng giao dịch…) thông qua phỏng vấn các công ty kinh doanh BĐS, công ty xây dựng, nhà thầu, ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác; thông tin trên báo chí (báo viết, nói, hình) của địa phương, trung ương và của các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường BĐS; thông tin trên các văn bản thể hiện tính pháp lý về quyền của chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng, về các đặc tính kinh tế, kỹ thuật của BĐS, về quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của khu vực có liên quan đến BĐS đó. Phân tích, đánh giá: Sau khi đã khảo sát và thu thập thông tin, NHTM sẽ tiến hành phân tích, đánh giá BĐS về các nội dung: Thứ nhất, BĐS có thực 7 hay không, thực tế và pháp lý có phù hợp hay không, có bị tranh chấp, tịch thu, kê biên hay giải tỏa hay không. Thứ hai, BĐS có tính thanh khoản như thế nào.
Thứ ba, BĐS có giá trị bằng bao nhiêu. Kết luận: Dựa trên nhưng phân tích, đánh giá kể trên, NHTM sẽ đi đến kết luận về việc có nhận BĐS làm tài sản bảo đảm để thế chấp hay không và nếu quyết định nhận thì mức bảo đảm là bao nhiêu. Nhận thế chấp và quản lý: Sau khi quyết đinh nhận BĐS làm tài sản bảo đảm để thế chấp vay vốn, NHTM sẽ tiến hành đăng ký thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền và giữ các giấy tờ (bản gốc) về BĐS thế chấp như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, v.v… Đồng thời, theo định kỳ hàng tháng, quý hay hàng năm, NHTM sẽ thực hiện khảo sát, kiểm tra lại BĐS thế chấp xem giá trị của chúng có thay đổi hay không, chúng có đang được sử dụng đúng mục đích hay có thay đổi gì hay không. Trước đây, nghiệp vụ quản lý BĐS của các NHTM hầu hết đều do can bộ tín dụng hay chuyên viên quan hệ khách hàng đảm nhiệm.
Tuy nhiên hiện nay, để đảm bảo hạn chế rủi ro về đạo đức và theo quy định của NHNN thì nghiệm vụ này (trừ việc đăng ký thế chấp và giữ các giấy tờ gốc) do bộ phận định giá thực hiện. Bộ phận này có thể là Phòng Thẩm định thuộc NHTM hoặc công ty con có chức năng thẩm định của NHTM, cũng có thể là các công ty có chức năng định giá theo tiêu chuẩn của Bộ Tài chính, tùy theo quy định và chiến lược của từng NHTM.3 Vai trò của định giá BĐS tại các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Trong các loại tài sản dùng để thế chấp thì BĐS vẫn được các NHTM ưu tiên hàng đầu. “Tại hội thảo Hoàn thiện pháp luật về giao dịch đảm bảo nhằm tăng cường cơ hội tiếp cận tín dụng tại Việt Nam ngày 27/6/2007, Công ty Tài chính Quốc tế và Hiệp hội Ngân hàng đã công bố khảo sát về tình hình 8 hoạt động cho vay cho thấy có đến 93% các ngân hàng muốn nhận BĐS làm tài sản thế chấp cho các khoản vay thương mại. Bất động sản thế chấp là tài sản thuộc sở hữu hay quyền sử dụng của bên đi vay (bên thế chấp) được sử dụng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay (bên nhận thế chấp), ở đây là ngân hàng.
Đây là một sự đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bên đi vay với các tổ chức tín dụng về các khoản vay của họ, trong trường hợp người đi vay không trả được nợ thì BĐS dùng để thế chấp này sẽ là nguồn trả nợ cho người đi vay. Các NHTM có thể tự định giá các BĐS thế chấp hoặc chuyên nghiệp hơn đó là thành lập các công ty con chuyên về quản lý nợ và khai thác tài sản. Và một trong những nhiệm vụ chính của các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản đó là tiếp nhận để định giá các tài sản thế chấp của ngân hàng. Kết quả của hoạt động định giá tại các công ty này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các NHTM.
- Định giá BĐS thế chấp để ước tính giá trị của BĐS thế chấp đã đưa ra để làm đảm bảo cho khoản vay tại NHTM.