Tổng quan nghiên cứu

Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà sở hữu tổng diện tích tự nhiên 29.831,5 ha, trong đó hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi chiếm khoảng 9.800 ha, đóng vai trò hạt nhân trong việc duy trì cân bằng sinh thái vùng duyên hải Đông Bắc. Thảm thực vật karst tại đây lưu giữ nguồn tài nguyên đa dạng sinh học phong phú với 1.585 loài thực vật bậc cao có mạch và 343 loài động vật có xương sống trên cạn, bao gồm nhiều nguồn gen đặc hữu nguy cấp như loài Voọc Cát Bà. Tuy nhiên, trước tác động cộng hưởng của biến đổi khí hậu, hoạt động du lịch phát triển nhanh và tình trạng khai thác quá mức trong lịch sử, cấu trúc rừng tự nhiên trên núi đá vôi đã bị suy giảm đáng kể. Đặc thù địa hình karst với vách đá dốc đứng và tầng đất mỏng khiến tốc độ tích lũy sinh khối của rừng núi đá vôi chỉ bằng khoảng 50% so với rừng núi đất, dẫn đến nguy cơ xói mòn và suy kiệt tài nguyên nước ngọt nghiêm trọng khi tán rừng bị phá vỡ.

Xuất phát từ thực tiễn cấp bách đó, công trình nghiên cứu được triển khai nhằm xác định toàn diện các đặc điểm lâm học cơ bản của bốn kiểu quần xã thực vật tự nhiên trên núi đá vôi tại Cát Bà. Nghiên cứu đi sâu đánh giá định lượng các chỉ tiêu sinh trưởng cá thể, cấu trúc tổ thành tầng cây cao theo chỉ số giá trị quan trọng, mật độ lâm phần, hình thái phân bố không gian và động thái tái sinh tự nhiên. Toàn bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm được thu thập đồng bộ trên 12 ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời với diện tích 1.000 m2 mỗi ô và 108 ô dạng bản diện tích 25 m2 trong năm 2018, đồng thời kế thừa dữ liệu từ đề tài khoa học công nghệ cấp quốc gia mang mã số 24/17/ĐTĐL.CN-XHNVTN. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ vững chắc để xây dựng các giải pháp kỹ thuật lâm sinh đột phá và cơ chế quản lý rừng bền vững, bảo vệ toàn vẹn các giá trị di sản của khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của các học thuyết sinh thái học và lâm học nhiệt đới kinh điển. Trước hết là học thuyết về hệ sinh thái và cấu trúc quần xã thực vật của Odum và Tansley, khẳng định mối quan hệ biện chứng, hữu cơ giữa các thành phần sinh vật với môi trường lập địa karst khắc nghiệt. Thứ hai là hệ thống phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978), phân chia cấu trúc thẳng đứng của rừng nhiệt đới thành các tầng rõ rệt gồm tầng vượt tán A1, tầng ưu thế sinh thái A2, tầng dưới tán A3 cùng lớp cây bụi và thảm tươi. Thứ ba là lý thuyết động thái tái sinh rừng nhiệt đới của Richards (1952) và Van Steenis (1956), mô tả cơ chế tái sinh phân tán liên tục và tái sinh theo vệt hổng tán rừng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng mô hình định lượng chỉ số giá trị quan trọng (Important Value - IV%) của Daniel Marmillod nhằm lượng hóa vai trò sinh thái của từng loài cây thông qua sự kết hợp giữa tỷ lệ số cây và tỷ lệ tiết diện ngang. Hệ thống khái niệm cốt lõi được sử dụng xuyên suốt công trình gồm:

  • Cấu trúc lâm phần: Quy luật sắp xếp không gian của các cá thể cây gỗ theo cả chiều thẳng đứng lẫn mặt phẳng nằm ngang.
  • Chỉ số giá trị quan trọng (IV%): Thước đo tổng hợp phản ánh mức độ ưu thế sinh thái của một loài trong quần xã thực vật.
  • Tái sinh tự nhiên: Quá trình tự nhân giống, phục hồi và thay thế thế hệ cây mẹ bằng thế hệ cây con dưới tán rừng.
  • Độ tàn che: Tỷ lệ che phủ của vòm tán lá cây rừng đối với mặt đất, quyết định chế độ ánh sáng và vi khí hậu dưới tán.
  • Hệ sinh thái karst nhiệt đới: Quần xã sinh vật thích nghi đặc thù trên nền địa hình đá vôi phong hóa, khô hạn cục bộ và nghèo dinh dưỡng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được kết hợp chặt chẽ giữa số liệu sơ cấp điều tra thực địa và số liệu thứ cấp kế thừa từ Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà cùng các báo cáo chuyên ngành. Phương pháp chọn mẫu điển hình tạm thời được áp dụng để lập 12 ô tiêu chuẩn (OTC) có diện tích 1.000 m2 (kích thước 20 x 50 m hoặc 25 x 40 m) trên bốn trạng thái quần xã thực vật đại diện. Tổng diện tích điều tra tầng cây cao đạt 12.000 m2. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ tính phân hóa phức tạp và mức độ chia cắt mạnh của địa hình núi đá vôi, đòi hỏi các ô mẫu phải phản ánh trung thực điều kiện lập địa và cấu trúc quần thể đặc trưng.

Trong mỗi OTC, tất cả cây gỗ có đường kính ngang ngực D1.3 từ 6 cm trở lên đều được đo đếm bằng thước kẹp kính chuyên dụng với độ chính xác 0,5 cm, chiều cao vút ngọn Hvn đo bằng thước Blumeleiss với độ chính xác 0,5 m và đường kính tán Dt đo theo hai hướng vuông góc Đông - Tây, Nam - Bắc. Độ tàn che được xác định khách quan bằng phương pháp ngắm điểm qua ống đo tại 100 vị trí cách đều nhau 5 m trên các tuyến đo song song. Để điều tra cây tái sinh và lớp cây bụi thảm tươi, nghiên cứu bố trí 9 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m2 (5 x 5 m) trong mỗi OTC, phân bổ đều theo ba cấp độ tàn che (cao = 1,0; trung bình = 0,5; không có tán che = 0), nâng tổng số ODB toàn đợt khảo sát lên 108 ô với diện tích 2.700 m2.

Toàn bộ dữ liệu thu thập được chỉnh lý bằng phương pháp thống kê toán học trong lâm sinh theo nguyên lý phân tổ của Brooks và Caruthers. Các tham số thống kê mô tả bao gồm giá trị trung bình mẫu, phương sai, sai tiêu chuẩn, hệ số biến động và hệ số chính xác được tính toán đồng bộ qua phần mềm Excel. Cấu trúc phân bố số cây theo mặt phẳng nằm ngang được kiểm định qua chỉ số khoảng cách U của Clark và Evans với dung lượng chọn mẫu n = 40 cây ngẫu nhiên trong mỗi OTC. Quá trình thu thập và phân tích dữ liệu thực địa diễn ra hoàn chỉnh trong năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực nghiệm đã chỉ ra bốn phát hiện khoa học cốt lõi về đặc điểm lâm học rừng núi đá vôi Cát Bà:

Thứ nhất, các chỉ tiêu sinh trưởng cá thể của tầng cây cao có sự phân hóa rõ nét giữa các trạng thái rừng khảo sát. Mật độ tầng cây cao dao động từ 290 cây/ha ở trạng thái rừng nghèo kiệt đến 740 cây/ha ở trạng thái rừng trung bình và rừng phục hồi tốt. Đường kính ngang ngực bình quân D1.3 biến thiên trong khoảng từ 14,5 cm đến 22,8 cm. Chiều cao vút ngọn bình quân Hvn đạt từ 8,5 m đến 16,2 m và đường kính tán lá Dt dao động từ 3,2 m đến 5,8 m. Hệ số biến động về đường kính và chiều cao ở mức từ 22% đến 38%, phản ánh tính phân tầng và sự không đồng đều về kích thước cây gỗ trong quần xã.

Thứ hai, cấu trúc tổ thành theo chỉ số giá trị quan trọng (IV%) phản ánh tính ưu thế của một nhóm loài cây chịu hạn bản địa. Trong mỗi trạng thái rừng, chỉ có từ 4 đến 6 loài cây thực sự đóng vai trò chủ đạo với tổng giá trị IV% chiếm từ 42,5% đến 68,3% toàn lâm phần. Các loài chiếm ưu thế sinh thái cao nhất bao gồm Sâng, Ngát, Vối thuốc, Gội nếp, Kháo và Mạy tèo. Những loài cây này thể hiện khả năng thích nghi vượt trội với môi trường đá vôi xút kiệt nước và nền thổ nhưỡng mỏng manh.

Thứ ba, mật độ cây tái sinh tự nhiên tương đối dồi dào, dao động từ 2.800 cây/ha đến 8.500 cây/ha. Nguồn gốc cây tái sinh chủ yếu sinh ra từ hạt, chiếm tỷ lệ từ 78% đến 85%, trong khi tái sinh chồi chỉ chiếm từ 15% đến 22%. Tuy nhiên, chất lượng cây tái sinh lại bộc lộ hạn chế lớn: tỷ lệ cây sinh trưởng tốt chỉ đạt từ 25% đến 32%, cây chất lượng trung bình chiếm từ 45% đến 50%, còn lại từ 18% đến 30% là cây phẩm chất xấu, cong queo hoặc bị sâu bệnh. Đáng chú ý, số lượng cây con tập trung chủ yếu ở cấp chiều cao dưới 0,5 m (chiếm trên 55%), trong khi cấp chiều cao trên 1,5 m có triển vọng gia nhập tầng cây cao chỉ chiếm dưới 15%.

Thứ tư, phân bố không gian của tầng cây gỗ và lớp cây tái sinh trên mặt phẳng nằm ngang tuân theo quy luật phân bố cụm rõ rệt. Kết quả kiểm định tiêu chuẩn U của Clark và Evans đều cho giá trị nhỏ hơn 1 ở hầu hết các ô tiêu chuẩn, phản ánh xu hướng các cá thể cây tập trung quanh các khe nứt, hốc đá có lớp đất dốc tụ và độ ẩm tích lũy cao hơn so với bề mặt đá gốc trơ trọi.

Thảo luận kết quả

Thực trạng sinh trưởng chậm và tỷ lệ phân hóa mạnh của tầng cây cao bắt nguồn trực tiếp từ điều kiện lập địa khắc nghiệt của miền karst nhiệt đới ngập nước cổ. Đất Feralit nâu đỏ và nâu vàng phong hóa trên đá mẹ vôi có tầng dày hạn chế, độ dốc sườn núi phổ biến từ 25 đến trên 40 độ khiến nước mặt bị thất thoát nhanh chóng vào các hang ngầm. Tình trạng thiếu nước cục bộ trong mùa khô làm suy giảm cường độ quang hợp của cây gỗ. Khi đối sánh với các nghiên cứu lâm học tại Vườn Quốc gia Vũ Quang hay vùng rừng Mường Phăng, cấu trúc tầng tán tại Cát Bà có chiều cao vút ngọn thấp hơn từ 15% đến 25% và tiết diện ngang bình quân thấp hơn khoảng 30%, chứng minh áp lực chọn lọc tự nhiên gay gắt của môi trường hải đảo.

Hiện tượng lớp cây tái sinh bị ứ đọng ở cấp chiều cao dưới 0,5 m và suy giảm đột ngột ở cấp chiều cao lớn hơn 1,5 m phản ánh rõ rào cản đào thải sinh thái trong quá trình cạnh tranh không gian sinh dưỡng. Tầng cây bụi và thảm tươi phát triển rậm rạp ở những nơi có độ tàn che thấp đã chèn ép ánh sáng, trong khi những nơi tán rừng khép kín hoàn toàn (độ tàn che bằng 1,0) lại khiến cây mầm thiếu năng lượng bức xạ để vươn tầng. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các luận điểm của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam khi đánh giá phục hồi rừng karst vùng Tây Bắc.

Về mặt trình bày trực quan học thuật, các bộ dữ liệu định lượng của luận văn có thể được biểu diễn một cách tối ưu thông qua các bảng thống kê tần số thực nghiệm và các đồ thị hàm phân bố toán học. Cấu trúc đường kính N/D1.3 và chiều cao N/Hvn có thể mô phỏng sinh động qua biểu đồ đường cong giảm liên tục hoặc hàm phân bố Weibull. Bên cạnh đó, việc xây dựng biểu đồ phẫu diện rừng (profile diagram) theo phương pháp Richards kết hợp biểu đồ hình quạt thể hiện tỷ trọng IV% sẽ làm nổi bật sự sắp xếp tầng tán thẳng đứng cũng như vị thế của các loài ưu thế trong hệ sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các căn cứ khoa học về cấu trúc và động thái tái sinh lâm phần, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm phục hồi bền vững diện tích rừng trên núi đá vôi tại Cát Bà:

Thứ nhất, thực hiện biện pháp lâm sinh xúc tiến tái sinh tự nhiên có hỗ trợ kỹ thuật. Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà chủ trì tổ chức phát dọn dây leo, cây bụi xâm lấn và tỉa thưa cục bộ tại các vệt cây tái sinh mục đích. Mục tiêu là nâng tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng từ mức 28% hiện tại lên trên 50% vào năm 2026, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài cây con vượt qua giai đoạn cạnh tranh tầng thấp.

Thứ hai, triển khai kỹ thuật trồng bổ sung làm giàu rừng bằng các loài cây bản địa ưu thế. Giai đoạn 2024 - 2028, các đơn vị kiểm lâm phối hợp cùng chính quyền địa phương đưa vào gieo ươm và trồng dặm từ 150 đến 200 cây/ha các loài cây gỗ bản địa chịu hạn, có giá trị bảo tồn cao như Nghiến, Trai lý, Kim giao, Lát hoa tại các khoảng trống rừng nghèo kiệt. Giải pháp này hướng tới mục tiêu gia tăng độ tàn che lâm phần lên mức 0,6 đến 0,7 vào cuối chu kỳ.

Thứ ba, điều chỉnh cấu trúc tầng tán và quản lý vi khí hậu lâm phần hợp lý. Áp dụng kỹ thuật điều tiết độ tàn che của tầng cây cao duy trì ổn định trong ngưỡng tối ưu từ 0,5 đến 0,6. Đây là khoảng che phủ lý tưởng đã được thực nghiệm chứng minh giúp tối đa hóa khả năng tiếp nhận ánh sáng tán xạ của cây con, giảm tỷ lệ tử vong của lớp cây tái sinh non xuống dưới 20% trước năm 2027.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế quản lý bảo vệ dựa vào cộng đồng và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng đẩy mạnh giao khoán bảo vệ rừng gắn với nguồn thu từ dịch vụ du lịch sinh thái, đảm bảo mức chi trả dịch vụ môi trường rừng đạt từ 400.000 đến 500.000 đồng/ha/năm trong giai đoạn 2024 - 2030. Đồng thời, xây dựng các mô hình sinh kế nông lâm kết hợp vùng đệm nhằm giảm thiểu 100% các hành vi xâm hại tài nguyên rừng tự nhiên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn sau:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và các ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên. Các kỹ sư lâm nghiệp, nhà hoạch định chính sách tại Cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm và Ban Quản lý Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà có thể trực tiếp ứng dụng phương pháp điều tra và các giải pháp kỹ thuật lâm sinh để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 5 đến 10 năm cho các hệ sinh thái karst ven biển.

Thứ hai, các nhà khoa học, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Sinh thái thực vật. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận chuẩn mực, hệ thống số liệu định lượng về chỉ số IV%, quy luật phân bố không gian Clark và Evans cùng cơ sở sinh thái học thực nghiệm để đối sánh trong các công trình nghiên cứu chuyên sâu về thảm thực vật núi đá vôi nhiệt đới.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ và đơn vị điều phối dự án bảo tồn đa dạng sinh học. Những tổ chức hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên có thể khai thác các dẫn liệu khoa học về cây tái sinh và cây bản địa để thiết kế các dự án phục hồi sinh cảnh sống cho các loài linh trưởng nguy cấp, đặc biệt là quần thể Voọc Cát Bà.

Thứ tư, giảng viên và sinh viên tại các trường đại học khối Nông Lâm Nghiệp. Tài liệu là nguồn học liệu thực tế quý giá, phục vụ công tác giảng dạy và học tập các học phần Lâm sinh học, Điều tra rừng, Sinh thái học môi trường và Đa dạng sinh học vùng đặc thù.

Câu hỏi thường gặp

Quá trình phục hồi thảm thực vật rừng trên núi đá vôi tại Cát Bà gặp phải những khó khăn đặc thù nào so với vùng núi đất? Rừng trên núi đá vôi Cát Bà phát triển trên nền địa hình dốc đứng, tầng đất mỏng chỉ tích tụ rải rác trong các khe nứt và khả năng lưu giữ nước mặt rất kém. Tốc độ sinh trưởng sinh khối cây gỗ chỉ bằng khoảng 50% so với núi đất. Khi thảm phủ bị tổn thương, đá gốc bị phong hóa và rửa trôi nhanh chóng khiến cây con mất giá thể dinh dưỡng để bám rễ sinh tồn.

Chỉ số giá trị quan trọng (IV%) đóng vai trò như thế nào trong việc định hình các giải pháp lâm sinh? Chỉ số IV% tổng hòa cả số lượng cá thể lẫn tiết diện ngang của loài, giúp xác định chính xác vị thế sinh thái của từng cấu phần trong lâm phần. Những loài có giá trị IV% lớn hơn 5% (như Sâng, Vối thuốc, Ngát) được xác định là loài ưu thế mục đích, làm cơ sở lựa chọn cây mẹ gieo giống và đối tượng bảo vệ cốt lõi trong các mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng.

Mật độ và chất lượng cây tái sinh tự nhiên tại Cát Bà hiện nay có đáp ứng được yêu cầu tự phục hồi không? Mặc dù mật độ cây tái sinh đạt từ 2.800 đến 8.500 cây/ha với trên 80% sinh ra từ hạt, nhưng tỷ lệ cây có triển vọng sinh trưởng tốt chỉ chiếm từ 25% đến 32%. Hơn 55% cây con bị tắc nghẽn ở cấp chiều cao dưới 0,5 m do thiếu ánh sáng hoặc bị thảm tươi chèn ép, đòi hỏi bắt buộc phải có can thiệp lâm sinh mở tán và phát dọn mới thành rừng.

Ngưỡng độ tàn che nào là tối ưu nhất cho sự phát triển của lớp cây tái sinh tự nhiên trên núi đá vôi? Kết quả điều tra thực nghiệm trên 108 ô dạng bản chứng minh khoảng độ tàn che từ 0,5 đến 0,6 là tối ưu nhất. Ngưỡng tàn che này cung cấp vừa đủ lượng ánh sáng tán xạ cho cây mầm quang hợp, đồng thời duy trì độ ẩm lớp đất mặt dưới tán, hạn chế tối đa nguy cơ cây con bị khô héo vào mùa kiệt nước.

Cộng đồng địa phương tại vùng đệm tham gia và hưởng lợi như thế nào từ các giải pháp quản lý rừng bền vững? Người dân địa phương là chủ thể trực tiếp ký kết hợp đồng nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng và được hưởng nguồn kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng từ 400.000 đến 500.000 đồng/ha/năm. Việc kết hợp phát triển du lịch sinh thái và mô hình sinh kế nông lâm kết hợp giúp tạo thu nhập ổn định, giảm trên 70% các tác động xâm hại trái phép vào vùng lõi.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập hệ thống cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác về các chỉ tiêu sinh trưởng cá thể (D1.3, Hvn, Dt) và đặc trưng cấu trúc của bốn kiểu quần xã thực vật tự nhiên trên núi đá vôi tại Cát Bà.
  • Phân tích sâu sắc cấu trúc tổ thành qua chỉ số IV%, nhận diện nhóm 4 đến 6 loài cây ưu thế bản địa thích nghi sinh thái vượt trội và chứng minh quy luật phân bố cá thể theo cụm đặc thù của miền địa hình karst.
  • Đánh giá toàn diện hiện trạng tái sinh tự nhiên với mật độ từ 2.800 đến 8.500 cây/ha, làm rõ vai trò quyết định của nguồn gốc tái sinh từ hạt (trên 80%) và ngưỡng độ tàn che tối ưu 0,5 đến 0,6 đối với tỷ lệ sống của cây con.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật lâm sinh đồng bộ bao gồm xúc tiến tái sinh, trồng bổ sung loài bản địa chịu hạn, điều tiết tán rừng kết hợp hoàn thiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và sinh kế cộng đồng.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học lâu bền cho Khu dự trữ sinh quyển thế giới quần đảo Cát Bà.

Kế hoạch hành động tiếp theo cần tập trung xây dựng các mô hình thử nghiệm lâm sinh làm giàu rừng trong giai đoạn 2024 - 2026, tiến tới nhân rộng trên toàn bộ 9.800 ha diện tích rừng núi đá vôi trước năm 2030. Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp khoa học công nghệ và nâng cao nhận thức cộng đồng chính là chìa khóa then chốt để bảo tồn vẹn nguyên di sản thiên nhiên độc đáo cho các thế hệ tương lai.