phần mở đầu và kết luận, luận án có cấu trúc 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học dựa vào phong cách học tập của học viên ngƣời lớn tại trung tâm giáo dục thƣờng xuyên Chƣơng 2: Biện pháp dạy học dựa vào phong cách học tập của học viên ngƣời lớn tại trung tâm giáo dục thƣờng xuyên Chƣơng 3: Thực nghiệm dạy học dựa vào phong cách học tập của học viên ngƣời lớn tại trung tâm giáo dục thƣờng xuyên. 9 Chƣơng 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC DỰA VÀO PHONG CÁCH HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN NGƢỜI LỚN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về phong cách học tập Sự phát triển của sinh lý học thần kinh, đặc biệt sự xuất hiện của Tâm lý học đã cung cấp những cơ sở khoa học có giá trị cho các nghiên cứu về dạy hoc phân hóa, trong đó có những nghiên cứu về PCHT của ngƣời học.
Điều này có thể lý giải vì sao khái niệm đầu tiên có liên quan đến PCHT là ―kiểu nhận thức‖ (cognitive styles) do Allport đƣa vào những năm 30 của thế kỷ XX [83]. Các công trình nghiên cứu phong cách học tập rất phong phú và đa dạng trên nhiều bình diện, lý thuyết cũng nhƣ thực hành. Năm 2003 Trung tâm Nghiên cứu học tập và kỹ năng tại Anh đã dành 16 tháng để tìm hiểu các lý thuyết PCHT đang dùng trên thế giới hiện nay. Kết quả của chƣơng trình làm việc này cho thấy có 100 mô hình khác nhau trong đó có 71 mô hình là đáng kể để chú ý, đƣợc phân loại thành 5 nhóm [86]: Phong cách học tập dựa vào yếu tố gen – môi trƣờng; Phong cách học tập phản ánh các đặc điểm bên trong của cấu trúc nhận thức, gồm nhiều khả năng khác nhau; Phong cách học tập là tập hợp các kiểu nhân cách bền vững; Phong cách học tập là các ƣu thế linh hoạt trong học tập; Phong cách học tập là chiến lƣợc định hƣớng học tập Theo tổng hợp của Ken Dunn and Rita Dunn [90], đến năm 2006, có khoảng 650 đầu sách về PCHT xuất bản tại Mỹ và Canada, 4500 bài báo đăng trên các ấn phẩm khoa học về nội dung này và hơn 26000 Website đang hoạt động nhằm đo lƣờng và phân loại PCHT.
Những tên tuổi nổi tiếng trong lĩnh vực này nhƣ Ken Dunn, Rita Dunn, Grregorc, Kold, Myers – Briggs, Guiford, Bígg, Perter Honey. 10 Các nghiên cứu về phong cách học tập tập trung vào một số vấn đề chính nhƣ sau: (1985); Ken D a cá nhân trong quá trình tiếp nhận xử lý và phân tích thông tin trong các tình huống học tập. : - Các phong cách học tập tồn tại đồng thời ở mỗi ngƣời học - Không có phong cách học tập nào là tuyệt đối tối ƣu - Các phong cách học tập có quan hệ với nhau - Phong cách học tập liên quan mật thiết với sinh lý thần kinh của cá nhân - Phong cách học tập có tính ổn định - (Pizzo, Ken D (Milgram, Dunn và Price, 1993) [90]. Phân loại phong cách học tập Do quan niệm về phong cách học tập rất đa dạng nên việc phân loại phong cách học tập cũng rất phong phú.
Trung tâm nghiên cứu học tập và kỹ năng tại Anh đã phân loại 5 nhóm phong cách học tập sau:[86,27] 1/ Phong cách học tập dựa vào yếu tố gen- môi trƣờng Đặc điểm chung của các lý thuyết theo nhóm này đề cho rằng PCHT bền vững rất khó thay đổi trong suốt cuộc đời. Bởi các yếu tố sinh học đã tác động đến nhân cách, giác quan chiếm ƣu thế cũng nhƣ chức năng nổi trội của bán cầu não phải và bán cầu não trái. Tuỳ theo sự phân chia của các tác giả mà PCHT thuộc nhóm này phân chia thành các loại khác nhau. Có thể tóm tắt thành 4 loại chính dựa vào các 11 giác quan viết tắt là VAKT.
Cụ thể V = Visual (nhìn) A = Auditory (nghe), K= Kinaesthetic (vận động), T = Tactile (xúc giác). Với các tác giả trong nhóm này thì đặc điểm chung ở trên đƣợc mở rộng rất phong phú. ―Tri giác ‖ là cách ngƣời học tiếp nhận thông tin, còn ―xắp xếp‖ là cách ngƣời thay đổi, hệ thống và điều chỉnh thông tin. Cách tiếp cận PCHT theo mô hình của Ken Dunn&Rita Dunn thì phức tạp hơn.
Rita Dunn khẳng định kết quả học tập của học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác chứ không phải chỉ là trí thông minh. Ví dụ nhƣ môi trƣờng, cơ hội đƣợc di chuyển xung quanh lớp học, thời gian học và các dạng hoạt động khác nhau ở lớp. 2/ Phong cách học tập phản ánh các đặc điểm bên trong của cấu trúc nhận thức, gồm nhiều khả năng khác nhau. Các lý thuyết trong nhóm này xem PCHT gần nhƣ là đặc điểm cấu trúc của hệ thống nhận thức (Messick 1984) hay là những tác động giữa năng lực nhận thức và các quá trình nhận thức (Riding và Rayner 1998)[96,36].
Có một số tác giả gọi PCHT trong nhóm này bằng một khái niệm khác là ―Phong cách nhận thức‖ (Cognitive styles) vì cách phân chia loại phong cách (styles) ở đây đều dựa vào những thói quen chung của tƣ duy có tính chất ổn định, thƣờng đƣợc chia thành những cực độc lập. Riding (1998 ) cho rằng phong cách nhận thức là cách con ngƣời tƣ duy và là những ƣu thế, thói quen khi tổ chức và thể hiện thông tin. Ông chia mô hình đánh giá phong cách nhận thức thành hai chiều, mỗi chiều lại có hai cực đối lập. Một chiều về cấu trúc nhận thức với hai cực: Tổng hợp (holistic) – Phân tích (ânlytic).
Chiều thứ 2 về hình thức nhận thức bao gồm ngôn ngữ (verbaliser) hình ảnh (imager). Với cách phân chia nhƣ thế nhƣng mỗi loại phong cách lại có tên gọi khác nhau. 12 Giống nhƣ nhóm PCHT trên, các tác giả của nhóm PCHT về nhận thức cũng nhấn mạnh yếu tố di truyền bẩm sinh của cá nhân. Có nghĩa là PCHT hay phong cách nhận thức của mỗi ngƣời khó có thể thay đổi đƣợc 3/ PCHT là tập hợp các kiểu nhân cách bền vững Hầu hết những lý thuyết trong nhóm này đều nghiên cứu về nhân cách.
Vậy tại sao lại đặt chúng vào lý thuyết về PCHT ? một số nhà nghiên cứu trong nhóm này nhƣ Miller (1991) Myers – Macculley (1985) tranh luận rằng tuy những công cụ mà họ xây dựng nhằm đánh giá các đặc điểm nhân cách nhƣng chúng cũng phục vụ cho học tập. Giáo viên nhà quản lý, nhà phân phối, nhà tƣ vấn dùng những công cụ này để giúp đỡ ngƣời học phân loại kiểu nhân cách của cá nhân nói chung, các cách tiếp cận giải quyết của cá nhân đối với các mối quan hệ ngƣời – ngƣời và thế giới. Từ đó hỗ trợ ngƣời học có những lựa chọn học tập phù hợp. Myers- Brígg, Apter và Jackson là 3 tác giả thuộc nhóm này.
Cách triển khai đánh giá nhân cách của mỗi tác giả cũng phức tạp và đa dạng nhƣ chính bản chất của nhân cách trong lịch sử nghiên cứu tâm lý học. Những năm 40 của thế kỷ XX, Myers dựa trên lý thuyết nhân cách của Jung phát triển thành trắc nghiệm đánh giá nhân cách khá nổi tiếng có tên là MBTI (Myers- Briggs Type Indicator). Lý thuyết của Apter thiên về khía cạnh khác của nhân cách là động cơ sự chuyển đổi giữa các động cơ khác nhau, và khi nói đến học tập thì không thể bỏ qua vấn đề này. Điều thú vị mà Apter đƣa ra là lý thuyết của ông giúp chúng ta hiểu hành vi và trải nghiệm của con ngƣời ở những thời điểm khác nhau bằng cách chuyển đổi qua lại trong 4 phƣơng diện: Mục đích (means – ends); Nguyên tắc (rules); Thực hiện (transaction); và: Các mối quan hệ (relationships).1: Sự chuyển đổi giữa các phong cách theo 4 phương diện của Apter Nhu cầu Thành tích Niềm vui Phong cách Nghiêm túc Vui chơi Nhu cầu Đúng nguyên tắc Tự do Phong cách Cứng nhắc Thách thức Nhu cầu Quyền lực Tình thân 13 Phong cách Cạnh tranh Tình cảm Nhu cầu Cá nhân Siêu cá nhân Phong cách Hƣớng về bản thân Hƣớng về ngừơi khác Áp dụng chuyển đổi giữa các loại động cơ vào PCHT, Apter gợi ý rằng việc học sẽ hiệu quả hơn khi giáo viên tạo ra môi trƣờng học tập vừa đạt đƣợc những giá trị quan trọng, vừa giảm thiểu sự nhàm chán ở học sinh.
Không xem xét PCHT ở một khía cạnh khá sâu nhƣ động cơ trong nhân cách Jackson nhìn PCHT ở góc độ khái quát hơn. PCHT theo ông là tiểu bộ phận của nhân cách lấy sinh lý thần kinh là cơ sở. Hầu hết ứng dụng thực tiễn của lý thuyết này dành cho quản lý doanh nghiệp, đào tạo chuyên môn cho nhân viên làm việc theo nhóm cũng nhƣ tạo môi trƣờng học tập tích cực trong tổ chức. Không những thế Jackson mong muốn qua đánh giá PCHT của từng cá nhân, nhà quản lý có định hƣớng phát triển nhiều dạng thế mạnh hơn là chỉ khuyến khích nhân viên làm việc theo ƣu thế tự nhiên của họ.
4/ Phong cách học tập là các ƣu thế linh hoạt trong học tập Điểm khác biệt nhất của nhóm PCHT này so với ba nhóm đã nêu trên là PCHT không ổn định ở một đặc điểm nào đó mà có thể thay đổi do văn hoá, xã hội và kinh nghiệm, mặc dù sự phân chia các loại PCHT ở một số mô hình vẫn dựa trên nền tảng sinh học – chức năng não bộ. Davi Kolb là tác giả tiêu biểu cho nhóm lý thuyết này. Đầu những năm 70 của thế kỷ XX, Kolb nghiên cứu và phát triển công cụ đánh giá lý thuyết học tập trải nghiệm của mình là LSI (Learning Styles Inventory). Quan điểm xuất phát của ông về PCHT không phải là những nét nhân cách cố định, mà là ―các ƣu thế học tập khác nhau thay đổi từ tình huống này sang tình huống khác‖.
Tuy nhiên tại một thời điểm vẫn có PCHT tƣơng đối ổn định (Davi Kolb, tr61). 14 Đến cuối thập kỷ 70 Honey và Mumford nhận thấy LSI của Kolb có độ ứng dụng thấp với các nhà quản lý – đối tƣợng đích thực của LSI nên họ đã dành 4 năm nghiên cứu các công trình của Kolb trƣớc khi xây dựng LSQ (Learning Styles Questionnaire) của riêng mình. Vì cùng quan điểm về PCHT nên cách phân chia các loại PCHT của Honey- Mumford và Kolb tƣơng đối giống nhau, nhƣng đƣợc đặt tên khác nhau. 4 loại PCHT để tạo ra cân bằng, thích nghi trong học tập.
Cũng với cách nhìn nhƣ vậy nhƣng phân loại của Herrmann (1989) và Allinson – Hayes (1996) lại căn cứ chủ yếu vào các nghiên cứu của não bộ.