Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG, LÂM, THỦY SẢN 1. Tổng quan một số công trình nghiên cứu về nông, lâm, thủy sản ở Việt Nam 1. Một số nghiên cứu ở Việt Nam Trên cơ sở quan niệm chung về nông nghiệp, các nhà nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu một hình thái mới của nông nghiệp, đó là nông nghiệp đô thị (NNĐT). Năm 1986, GS Lê Thông (1986) chú ý đến hướng nghiên cứu nông nghiệp ngoại thành [23].
Năm 2004, Lê Quốc Doanh đã nhận thấy rằng, bên cạnh những thế mạnh, nông nghiệp ngoại thành cũng có nhiều hạn chế như không gian (địa bàn) sản xuất thiếu ổn định, diện tích đất canh tác giảm mạnh, hệ thống canh tác chịu ảnh hưởng trực tiếp của ô nhiễm (đặc biệt là nguồn nước và đất) do tác động của quá trình ĐTH. Nghiên cứu trực tiếp về NNĐT ở nước ta có thể kể đến các tác giả Phong Hải Tên (2003) [19], Mai Thị Phương Anh (2001), Lê Đức Thịnh (2005), Lê Văn Trưởng (2008) [34]. Đáng chú ý là Lê Văn Trưởng (2008) cho rằng mầm mống của NNĐT ở nước ta đã có ngay từ thời phong kiến. Chúng đã có mặt ở các đô thị (thành) cổ.
Bước sang thời kì Pháp thuộc, NNĐT tiếp tục được phát triển thêm một bước và mang dáng dấp của NNĐT hiện đại. Trong hoàn cảnh cụ thể của nước ta ngày nay, ngay cả khi các đô thị phát triển rất mạnh (như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng.), thì trong lòng của chúng vẫn có các khu vực nông nghiệp [34]. NNĐT cũng là đề tài của một số luận án tiến sĩ như của Trần Trọng Phương (2012) Lê Văn Thơ (2012), Vũ Thị Mai Hương (2014), Lê Mỹ Dung (2015) [8]. Các nhà địa lý có truyền thống nghiên cứu tổ chức lãnh thổ của NLTS.
GS Lê Thông (1986) cho rằng TCLTNN là các mối liên hệ không gian giữa các bộ phận tự nhiên, dân cư, kinh tế nông nghiệp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất trong quá trình sản xuất [23]. GS Nguyễn Viết 5 Thịnh (1995) quan niệm TCLTNN là tổ chức các không gian nông nghiệp trên cơ sở đánh giá tác động tổng hợp của các nhân tố tương đối tĩnh (các điều kiện sinh thái nông nghiệp) và các nhân tố động (với các mức độ khác nhau) như dân cư, lao động, mạng lưới đô thị, kết cấu hạ tầng sản xuất và sinh hoạt, thị trường nông sản, chính sách phát triển. nhằm đánh giá được sự phân hóa lãnh thổ Nông nghiệp đã định hình, sự hợp lí và chưa hợp lí của nó rồi đưa ra một (hoặc hai, ba) phương án định hướng TCLTNN, trong đó phát hiện chính xác các địa bàn trọng điểm phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH, đồng thời phát hiện các vùng khó khăn để đề xuất các chính sách phát triển phù hợp [22]. Một số nghiên cứu về nông, lâm, thủy sản ở Thành phố Thanh Hóa Nghiên cứu về nông nghiệp ở TP Thanh Hóa rất hạn chế.
Cho đến thời điểm hiện tại, chúng tôi chỉ thu thập được một số công trình tiêu biểu sau đây. Năm 2007, Lê Văn Trưởng và Lê Kim Chi đã công bố “Kết quả khảo sát tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở thành phố Thanh Hóa, thị xã Bỉm Sơn và TX Sầm Sơn” [32]. Năm 2012, với đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu các hệ thống sản xuất NNĐT ở Thành phố Thanh Hóa”, Lê Văn Trưởng đã dựa vào 7 tiêu chí để xác định các hệ thống sản xuất NNĐT bao gồm: địa bàn phân bố sản xuất, chủ thể, mục đích của sản xuất, sản phẩm, mức độ thương mại hóa, kỹ thuật sản xuất và công nghệ sử dụng, qui mô sản xuất. Từ đó nhóm nghiên cứu đã xác định được ở TP Thanh Hóa, vào thời điểm năm 2012, có 10 hệ thống sản xuất NNĐT bao gồm: Hệ thống sản xuất nông nghiệp tại nơi ở; Hệ thống sản xuất nông nghiệp trên đất công; Hệ thống sản xuất nông nghiệp tại các khuôn viên; Hệ thống công viên; Hệ thống vườn thương mại quy mô nhỏ; Hệ thống trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô nhỏ; Hệ thống nuôi thủy sản; Hệ thống lâm nghiệp đô thị; Xí nghiệp nông nghiệp và Hệ thống trang trại đa chức năng.
Đồng thời tác giả cũng đã đề xuất được các giải pháp để hỗ trợ, phát triển bền vững 10 hệ thống NNĐT trên [26]. 6 Năm 2016, trong bài báo “Thực trạng và giải pháp phát triển cây bóng mát đường phố trên địa bàn thành phố Thanh Hóa”, tác giả Đặng Lâm Hà đã phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển hệ thống cây xanh đường phố cho TP Thanh Hóa [11]. Trong Luận văn thạc sĩ của mình, tác giả Nguyễn Hoàng Thanh (2019) đã đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa ở TP Thanh Hóa đến việc sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của nông dân ở thành phố này trong giai đoạn 2013-2018 [20]. Ngay sau khi điều chỉnh địa giới hành chính gần đây nhất (năm 2015), TP Thanh Hóa đã xây dựng và ban hành các quy hoạch phát triển mới nhằm đáp ứng tình hình và những yêu cầu mới, đó là “Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 25-10-2020 của Ban thường vụ tỉnh ủy Thanh Hóa về xây dựng và phát triển TP Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” Đó là phát triển toàn diện, xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch hướng tới xuất khẩu, tăng nhanh giá trị trên một ha diện tích gắn với bảo vệ môi trường [26].
Năm 2022, Nguyễn Xuân Phi công bố cuốn sách “Đô thị xanh, thông minh. Từ thực tiễn thành phố Thanh Hóa”. Đây là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về TP Thanh Hóa, trong đó tác giả đã đề cấp đến đô thị xanh, một hướng phát triển đô thị có lợi cho phát triển NLTS [18]. Năm 2022, Trần Lê Vân và Lê Tố Uyên đã công bố nghiên cứu “Tác động của đô thị hóa tới sự hình thành các hình thức tổ chức lãnh thổ Nông nghiệp ở thành phố Thanh Hóa.
Trong nghiên cứu này, sau khi nhận ra 5 đặc điểm quá trình đô thị hóa, đã phân tích 9 hình thức tổ chức lãnh thổ Nông nghiệp bao gồm: vườn đô thị, sản xuất nông nghiệp trên đất công, khuôn viên, công viên, khu vực nuôi thủy sản, lâm nghiệp đô thị, trang trại, vùng chuyên canh và vành đai nông nghiệp. Hai tác giả này cũng đã đề xuất các giải pháp để phát triển hiệu quả các hình thức tổ chức lãnh thổ Nông nghiệp này [48]. Nghiên cứu trên đây của Trần Lê Vân và Lê Tố Uyên là một trong những cơ sở quan trọng Trần Lê Vân hoàn thành bản luận văn này. 7 Các kết quả tổng quan trên đây, không chỉ giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về NNĐT của Việt Nam và TP Thanh Hóa, mà quan trọng hơn là giúp tác giả đúc kết cơ sở lí luận và thực tiễn định hướng cho việc triển khai nghiên cứu và lựa chọn các giải pháp phát triển NNĐT trên địa bàn TP Thanh Hóa.
Cơ sở lí luận về phát triển nông, lâm, thủy sản 1. Một số khái niệm liên quan - Nông nghiệp. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, NN sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp [1]. Nông nghiệp được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.
Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp chỉ gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Nông nghiệp là cơ sở cho sự phát triển công nghiệp, để tiến hành CNH, HĐH và ĐTH (cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, đất, lao động, thị trường, tiền vốn cho công nghiệp và đô thị. Nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà còn là một sinh kế có vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo,. Đồng thời NN còn là nơi nuôi dưỡng và cung cấp các nguồn tài nguyên và dịch vụ môi trường.
- Nông nghiệp đô thị. Theo nghiên cứu của các tổ chức quốc tế như FAO, UNDP cũng như của các nhà khoa học như René Van Veenhuizen (2006), Mougeot (2000), Lê Văn Trưởng (2008) [34]. thì NNĐT là một ngành sản xuất ở trung tâm, ngoại ô và vùng lân cận đô thị, có chức năng trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và phân phối các loại thực phẩm, lương thực và các sản phẩm khác, sử dụng các nguồn lực TN và nhân văn, các sản phẩm cùng các dịch vụ ở đô thị và vùng lân cận đô thị để cung cấp trở lại cho đô thị các sản phẩm và dịch vụ cao cấp. 8 NNĐT bao gồm nông nghiệp nội đô và nông nghiệp ven đô, ngoại thành với các hoạt động chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản [34].
+ Nông nghiệp nội đô là các hoạt động sản xuất nông nghiệp được tổ chức tại các diện tích nhỏ xen cài trong đô thị; hoặc các hoạt động sản xuất nông nghiệp không cần mặt đất (như sân thượng, ban công, trong các giá thể treo, tại các trang trại thẳng đứng-skyfarm.); trồng cây xanh phân tán, cây xanh viên, cây xanh đường phố, cây xanh tại các khuôn viên, cây xanh xung quanh các khu công nghiệp. Đây là vùng cung cấp nông sản chủ yếu cho vùng nội đô, nhưng đồng thời lại cũng chính là những vùng có tranh chấp gay gắt giữa sản xuất nông nghiệp với các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp như công nghiệp, xây dựng nhà ở, dịch vụ, mở rộng đường xá… Do quỹ đất đô thị không còn nhiều và thường xuyên thu hẹp, nên giá đất đai khá đắt. Quá trình ĐTH nhanh, dân số càng đông với mật độ cao và kinh tế ngày càng phát triển đã làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng.Vì thế mà các đô thị đều hướng đến nền nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp bền vững [36]. - Nông nghiệp sinh thái.
Theo Lê Văn Khoa (1999), nền nông nghiệp sinh thái là “nền nông nghiệp kết hợp hài hòa những ưu điểm, tích cực của nông nghiệp hóa học và nông nghiệp hữu cơ một cách hợp lý và có chọn lọc nhằm thỏa mãn nhu cầu hiện tại nhưng không gây hại đến các nhu cầu của các thế hệ tương lai (nông nghiệp bền vững); thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về sản phẩm nông nghiệp, nghĩa là phải đạt năng suất cao, phẩm chất nông sản tốt với mức đầu tư vật chất ít và hiệu quả kinh tế cao” [8].