Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÀNH NỘI THƯƠNG 1. Tổng quan các nghiên cứu về ngành nội thương 1. Nghiên cứu trên thế giới Kinh tế TM là lĩnh vực có lịch sử rất lâu đời trong thực tiễn và đã được quan tâm của giới khoa học thế giới từ rất sớm. Các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức quốc tế về TM, trong đó nội thương là một phần không thể thiếu được trong chiến lược phát triển ngành TM.
Nhà nghiên cứu Kamal Malhotra (2006), trong công trình về “Phát triển bền vững con người: tiếp cận từ góc độ vai trò của xuất khẩu trong chiến lược phát triển quốc gia” đã chỉ ra vai trò của ngành NT trong lĩnh vực TM; đó là việc góp phần đáng kể vào giải quyết việc làm, phát triển con người [1]. Tổ chức Phát triển TM của Liên hợp quốc (UNCTAD) đã có công bố về “Chính sách hội nhập TM quốc tế cho phát triển và các chiến lược giảm nghèo”. Trong vài trò của mình với TM thế giới, UNCTAD đã đề cập rất nhiều đến các vấn đề về TM, cụ thể như: “The green economy: Trade and sustaiable development implications” (Kinh tế xanh: TM và những mối liên quan đến phát triển bền vững ; “Trade and development, Report” (Báo cáo TM và Phát triển)[31]. Nhóm các nhà nghiên cứu bao gồm: Strachan, Janet R.; Sell, Malena; Gueye, Moustapha Kama, vào năm 2010 đã có công trình “TM, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững: các vấn đề quan trọng đối với các nước nhỏ, các nước chậm phát triển nhất và các nền kinh tế dễ bị tổn thương” (Trade, climate change and sustainable development: key issues for small states, least developed countries and vulnerable economies) đề cập đến nhiều nội dung quan trọng trong mối quan tâm của các quốc gia chậm phát triển, những nền kinh tế nhỏ bé trong phát triển TM trước thách thức của biến đổi khí hậu và phát triển bền vững [31].
Nghiên cứu “TM bền vững: thay đổi môi trường vận hành thị trường, thông qua hệ thống thuế quan TM toàn cầu được tiêu chuẩn hóa” (Sustainable trade: changing the enviroment the market operates in, through standardized Global trade tariffs) của Zoltan Ban biên soạn năm 2011, đã đề cập đến vấn đề tiêu chuẩn hóa hệ thống thuế quan toàn cầu, tác động rất lớn đến thị trường và nhấn mạnh sự chung vai, hỗ trợ của Chính phủ để thay đổi một số giải pháp đối với hệ thống thuế quan, đem lại những lợi ích nhằm đáp ứng nhu cầu con người và góp phần bền vững TM [1]. Công bố của nhóm tác giả Cesar Hidalgo, Ricardo Hausmann, Albert-Laszlo Barabasi về những điều kiện phát triển không gian sản phẩm của quốc gia (The Product Space Conditions the Development of Nations) đã chỉ ra rằng có một mạng lưới gọi là “không gian sản phẩm” thể hiện sự kết nối sản xuất và phân phối hàng hóa của một sản phẩm; từ đó các tác giả tìm cách lý giải mối quan hệ giữa sản xuất và TM là yếu tố quyết định đến hiệu quả của TM quốc tế [12]. Mặc dù không đề cập đến TM nội địa, song lý thuyết về “không gian sản phẩm” cũng hé mở những lý giải về mối liên kết thị trường, không gian phân bố các hình thức của hoạt động sản xuất ngành NT có vai trò quan trọng cho sự phát triển và mở rộng mạng lưới của ngành này. Nghiên cứu ở Việt Nam Phát triển các nghiên cứu, công bố về TM nói chung và nội thương nói riêng được nhiều học giả ở các lĩnh vực khác nhau quan tâm; từ góc độ Kinh tế đến góc độ địa lý học (bao gồm cả nội thương và ngoại thương).
Về cơ sở lý luận của hoạt động TM trong đó có nội thương đã có nhiều công trình của các GS, TS Kinh tế học như nhóm tác giả Đặng Đình Hào, Hoàng Đức Thân (chủ biên), “Giáo trình kinh tế TM”; Viện nghiên cứu TM (2007) “Giải pháp phát triển các mô hình kinh doanh chợ” (Đề tài khoa học cấp bộ) Nguyễn Thị Nhiễu, (2007) với“Nghiên cứu các hoạt động bán buôn, bán lẻ của một số nước và kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam” (Đề tài khoa học cấp bộ); tác giả Đinh Văn Thành (2007), “Đánh giá thực trạng và định hướng tổ chức các kênh phân phối một số mặt hàng chủ yếu ở nước ta từ năm 2001 đến nay” (Đề tài khoa học cấp bộ) [31]. Những nghiên cứu hướng tới xây dựng khái niệm, luận giải các vấn đề lý thuyết của TM và các lĩnh vực liên quan của hoạt động TM nói chung, trong đó có NT. Nhìn chung, lĩnh vực NT cũng đã được nghiên cứu khá dày dặn; với sự đóng góp của nhiều công trình khoa học, làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình nghiên cứu của tác giả vận dụng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đối với lãnh thổ cụ thể cũng cung cấp những nền tảng cơ sở thực để vận dụng phù hợp cho đề tài.
“Phát triển TM trên hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng” của Nguyễn Văn Lịch (NXB Thống kê, Hà Nội năm 2005). Dưới góc độ Địa lý học, các nghiên cứu từ đại cương đến phân ngành đều góp phần cung cấp một nền tảng lý luận và thực tiễn quan trọng để tác giả có thể vận dụng và kế thừa. “Địa lý dịch vụ, tập II: Địa lý TM và du lịch” của hai tác giả Nguyễn Minh Tuệ, Lê Thông (đồng chủ biên), các giáo trình “Địa lý KT-XH đại cương” Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên); “Địa lý KT-XH đại cương” của Lê Văn Trưởng; “Địa lý KT-XH Việt Nam” Lê Thông (chủ biên); đã đề cập chi tiết và đầy đủ về các vấn đề của địa kinh tế, đặc biệt là NT dưới góc độ địa lý học. Giáo trình “Địa lý KT-XH đại cương” của Lê Văn Trưởng đã phân tích các mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế; làm rõ một số chỉ tiêu KT-XH trong đó có các chỉ số liên quan hoạt động nội thương (chỉ số giá tiêu dùng, môi trường kinh doanh, khả năng cạnh tranh về khoa học – công nghệ…); phân tích các nguyên tắc phát triển lãnh thổ kinh tế…[34].
Đó là những lý thuyết cơ sở quan trọng mà các nghiên cứu theo hướng địa lý học có thể vận dụng để luận giải các vấn đề kinh tế theo lãnh thổ. Như vậy, ngành NT nói riêng cùng với TM nói chung đã được nghiên cứu khá dầy dặn và công phu về lý luận và thực tiễn. Đây cũng là cơ sở kiến thức cũng như những góc nhìn thực tiễn cho quá trình nghiên cứu của tác giả để vận dụng vào nghiên cứu ngành NT tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2010 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Nghiên cứu ở Thanh Hóa Nghiên cứu về phát triển TM Thanh Hóa nói chung và nội thương nói riêng tuy chưa nhiều nhưng có thể dẫn ra một số công trình tiêu biểu sau đây: - Địa chí Thanh Hóa tập I, đã trình bày và đánh giá vị trí địa lí, địa hình, khí hậu, sông ngòi, biển, dân số, phân bố dân cư.
đây là những nguồn lực để phát triển và phân bố TM, trong đó có nội thương …[37]. - Địa chí Thanh Hóa tập II, đã trình bày các tập quán, sở thích, ẩm thực … của dân cư Thanh Hóa, đây cũng là những nhân tố ảnh hưởng lớn đến sự phát triển TM, nhất là các hoạt động trao đổi hàng hóa trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. - Địa chí Thanh Hóa tập III, trong chương VII đã trình bày tình hình phát triển và phân bố ngành TM Thanh Hóa từ thời Pháp thuộc đến năm 2010 …[38] - Giáo trình Địa lý Thanh Hóa (2002) của Lê Văn Trưởng cũng đã phân tích những nguồn lực tự nhiên, sự phát triển của ngành NT và ngoại thương của tỉnh Thanh Hóa [35]. Phát triển KT-XH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa bao gồm TM luôn được sự quan tâm của các cấp chính quyền, sở ban ngành trong tỉnh; thể hiện ở hệ việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Thanh Hóa; quy hoạch ngành, lĩnh vực TM của địa phương qua nhiều giai đoạn: “Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030”; “Quy hoạch phát triển mạng lưới chợ tỉnh Thanh Hoá đến năm 2010, định hướng đến năm 2020"; “Quy hoạch phát triển mạng lưới siêu thị, trung tâm TM tỉnh Thanh Hoá đến 2020”; “Phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và TM tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” [26].
Ngày 17/6/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 872/QĐ-TTg, phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”; tháng 09/2016; UBND tỉnh tiếp tục ra quyết định “Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2025”. Tháng 5/2021, Sở Công Thương Thanh Hóa đã phát hành cuốn sách “Ngành công thương Thanh Hóa 70 năm xây dựng và phát triển. Cuốn sách này đã đề cập khái quát nhất quá trình phát triển nội thương và ngoại thương Thanh Hóa từ thời phong kiến đến năm 2020 [19]. Nhìn chung, những nghiên cứu cơ bản, có hệ thống về TM Thanh Hóa đã bước đầu phân tích được tiềm năng, nguồn lực và hiện trạng ngành NT trong TM Thanh Hóa, phác thảo quy hoạch TM Thanh Hóa đến 2030.
Tuy nhiên, cách tiếp cận của các nghiên cứu này đều ở mức độ khái quát hoặc chi tiết liên quan đến phương án xây dựng hạ tầng TM… Như vậy, qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu về ngành NT trên thế giới và Việt Nam, có thể thấy mỗi công trình nghiên cứu đều có những đóng góp tích cực ở các góc độ tiếp cận khác nhau; là cơ sở lý thuyết và thực tiễn quan trọng để đề tài có thể vận dụng, kế thừa cho các phân tích, đánh giá của mình. Cơ sở lí luận về phát triển ngành nội thương 1. Một số khái niệm liên quan 1. Thương mại “TM” theo nghĩa “Trade” trong tiếng Anh là “hoạt động mua và bán hoặc trao đổi hàng hóa/dịch vụ”.
Các thuật ngữ “Business” và “Commerce” cũng có nghĩa buôn bán hay kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (Business còn được hiểu một phần nghĩa là sản xuất) [23]. Trong nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam, khái niệm TM được đưa ra ở các góc độ khác nhau, nhưng có thể được hiểu khái quát là hoạt động trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa bên mua và bên bán [30]. TM vì thế cần được hiểu ở ở cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.