Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành du lịch đóng vai trò là một ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, góp phần gia tăng thu nhập quốc dân, tạo việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, sau 61 năm hình thành và phát triển, du lịch Việt Nam đã phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nghiêm trọng do đại dịch Covid-19, đặc biệt là đợt bùng phát dịch thứ tư vào đầu mùa hè năm 2021 khiến chuỗi cung ứng lữ hành bị gián đoạn, nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa và nguồn nhân lực bị suy giảm mạnh. Trong giai đoạn phục hồi hậu đại dịch, việc tái cơ cấu và khai thác hiệu quả các tài nguyên du lịch sẵn có tại các địa bàn trọng điểm trở thành nhiệm vụ cấp thiết.
Huyện Sóc Sơn (thành phố Hà Nội) là địa bàn cửa ngõ phía Bắc Thủ đô, sở hữu hệ sinh thái phong phú cùng hệ thống di tích lịch sử và văn hóa lâu đời. Nổi bật tại đây là quần thể di tích đền Sóc gắn liền với Lễ hội Gióng – di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO vinh danh năm 2010. Mặc dù sở hữu nhiều tiềm năng về cảnh quan đồi núi, rừng tự nhiên và giá trị tâm linh độc đáo, hoạt động du lịch tại đền Sóc phần lớn mới dừng lại ở việc khai thác tự nhiên, mang nặng tính mùa vụ tập trung vào dịp Tết Nguyên đán và đầu xuân để cầu phúc, xin lộc. Công tác quản lý, đầu tư hạ tầng và phát triển các sản phẩm du lịch tâm linh chuyên sâu chưa tương xứng với vị thế của một Di tích quốc gia đặc biệt. Nhằm giải quyết các bất cập trên, tác giả Đặng Thị Trang Ninh thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội với đề tài: "Nghiên cứu phát triển du lịch tại đền Sóc huyện Sóc Sơn, Hà Nội", dưới sự hướng dẫn của TS. Quách Thị Bình Thọ.
Mục tiêu chung của nghiên cứu là phân tích thực trạng phát triển du lịch tại đền Sóc, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và đưa điểm đến đến gần hơn với khách du lịch. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định gồm:
- Tổng quan một số vấn đề lý luận về phát triển du lịch tại đền Sóc.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại đền Sóc huyện Sóc Sơn.
- Phân tích các yếu tố tác động đến tình hình phát triển du lịch tại đền Sóc huyện Sóc Sơn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch và đưa khu di tích đền Sóc huyện Sóc Sơn đến gần với du khách hơn.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động du lịch tại khu di tích đền Sóc, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi không gian: Khu di tích đền Sóc và các địa bàn liên quan thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Số liệu và thực trạng hoạt động du lịch tại đền Sóc trong giai đoạn 5 năm từ năm 2018 đến năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận hoạt động phát triển du lịch dựa trên hệ thống cơ sở lý luận chuyên ngành và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành:
- Khái niệm và định nghĩa: Khóa luận tổng thuật các định nghĩa tiêu biểu về du lịch từ góc độ lý thuyết của GS. Berneker; quan điểm địa lý du lịch của I. I. Pirogionic (1985); định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO); và định nghĩa pháp lý theo quy định tại Luật Du lịch Việt Nam năm 2017.
- Khung phân loại tài nguyên và cơ sở vật chất kỹ thuật: Tiếp cận định nghĩa tài nguyên du lịch theo Pháp lệnh Du lịch Việt Nam năm 1999, phân định thành hai nhóm: tài nguyên du lịch tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, tài nguyên nước, sinh vật) và tài nguyên du lịch nhân văn (di tích lịch sử - văn hóa, di sản văn hóa, lễ hội truyền thống, làng nghề thủ công). Đồng thời, khóa luận đánh giá hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gồm cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống, cơ sở vui chơi giải trí, giao thông, bưu chính viễn thông, mạng lưới cấp thoát nước.
- Nguyên tắc và chính sách: Vận dụng 8 nguyên tắc phát triển du lịch bền vững và định hướng chiến lược quốc gia lấy du lịch văn hóa làm nền tảng, kết hợp du lịch sinh thái; căn cứ Kế hoạch số 104/KH-UBND của UBND huyện Sóc Sơn về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể đến năm 2025; các mốc điều chỉnh địa giới hành chính theo Quyết định số 178-CP (1977), Quyết định số 49-CP (1979) và Quyết định số 45-HĐBT (1987).
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu, khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu: Thu thập các văn bản pháp quy, số liệu thống kê, báo cáo chuyên môn của các cơ quan quản lý nhà nước và ấn phẩm nghiên cứu liên quan đến huyện Sóc Sơn và khu di tích đền Sóc; tiến hành phân loại, hệ thống hóa và xử lý dữ liệu phục vụ nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu thực địa / khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp theo tuyến điểm nhằm đánh giá nhanh hiện trạng tài nguyên tự nhiên, cảnh quan sinh thái, cơ sở vật chất kỹ thuật và điều kiện kinh tế - xã hội tại khu vực di tích. Phương pháp này hỗ trợ thu thập dữ liệu về số lượng khách, thị hiếu và dịch vụ phục vụ du khách.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp các đối tượng then chốt gồm cán bộ cấp xã, huyện, lãnh đạo Ban quản lý khu di tích đền Sóc và cộng đồng dân cư địa phương để ghi nhận thông tin thực tế về công tác quản lý và vận hành du lịch.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ báo cáo của UBND huyện Sóc Sơn, Ban quản lý Di tích và Danh thắng Hà Nội, Ban quản lý Khu di tích Đền Sóc, cùng kết quả từ các đề tài nghiên cứu tiền nhiệm được công bố trong giai đoạn 2011–2017.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 1 tập trung tổng quan các công trình nghiên cứu đi trước và xác lập khung lý thuyết cho đề tài:
- Tổng quan nghiên cứu: Điểm lại các công trình tiêu biểu gồm nghiên cứu của Vũ Thị Quỳnh Anh (2017) về tiềm năng du lịch tâm linh đền Gióng; Hà Thị Thu (2011) về quản lý di sản và phát triển du lịch; Nguyễn Thị Thu Hương (2013) về tài nguyên nhân văn và du lịch Sóc Sơn; Bùi Thị Thu Vân (2015) về phát huy bền vững không gian hội Gióng; và Dương Thị Ngọc Bích (2016) về bộ máy quản lý di tích. Tác giả chỉ ra khoảng trống về những khó khăn, bất cập trong thực tiễn vận hành cần tiếp tục giải quyết.
- Hệ thống cơ sở lý luận về du lịch: Phân tích các hợp phần tự nhiên cấu thành tài nguyên du lịch (ảnh hưởng của cự ly địa lý, địa hình đồi núi - karstơ, nhiệt độ, độ ẩm, chế độ gió, mạng lưới sông hồ và nước khoáng). Phân tích cấu trúc tài nguyên nhân văn và tiêu chuẩn 6 điểm của di sản thế giới.
- Hệ thống nguyên tắc phát triển du lịch: Trình bày chi tiết 8 nguyên tắc:
- Khai thác và sử dụng nguồn lực, tài nguyên một cách hợp lý.
- Tránh khai thác và tiêu thụ nguồn tài nguyên thiên nhiên quá mức và giảm thiểu tối đa chất thải.
- Phát triển du lịch bền vững phải đi kèm với bảo tồn và duy trì tính đa dạng của thiên nhiên, văn hóa xã hội.
- Phát triển du lịch phải phù hợp với tổng thể kinh tế - xã hội.
- Phát triển du lịch phải chia sẻ lợi ích kinh tế cho địa phương.
- Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch, nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường.
- Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia vào phát triển du lịch bền vững.
- Quảng bá và tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm.
- Phương hướng và vai trò: Khẳng định vai trò của du lịch trong việc tăng thu ngân sách, tạo việc làm, thúc đẩy "xuất khẩu tại chỗ" và "xuất khẩu vô hình" các giá trị văn hóa, di tích lịch sử.
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tại đền Sóc huyện Sóc Sơn
Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch và hiện trạng vận hành khu di tích:
- Điều kiện tự nhiên và hạ tầng huyện Sóc Sơn: Huyện có diện tích tự nhiên 304,7 km² (chiếm 1/3 diện tích Hà Nội), dân số khoảng 348.100 người (cuối năm 2019), gồm 26 đơn vị hành chính (1 thị trấn và 25 xã). Địa hình phân bậc thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, gồm: vùng đồi núi (cao 50–462 m, diện tích 104 km², đỉnh Hàm Lợn cao 462 m); vùng gò đồi thấp (cao 20–50 m, diện tích 264,203 km², chiếm 86,2% diện tích); vùng đồng bằng ven sông (cao 6–20 m). Khí hậu có nhiệt độ bình quân 23,5°C, lượng mưa trung bình 1.680 mm/năm, độ ẩm 85%. Hệ thống thủy văn gồm ba sông tự nhiên (sông Công, sông Cà Lồ, sông Cầu), ngòi Kim Anh, ngòi Lương Châu và hồ Đồng Quan. Mạng lưới giao thông đối ngoại gồm Quốc lộ 2, Quốc lộ 3, Quốc lộ 18, cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, cao tốc Nội Bài - Lào Cai và Cảng hàng không Quốc tế Nội Bài. Về hạ tầng cấp nước, tính đến tháng 3/2023, toàn huyện mới có khoảng 25.900 hộ (chiếm khoảng 30% tổng số hộ) trên địa bàn 11 xã, thị trấn được dùng nước sạch từ nguồn cấp tập trung.
- Tài nguyên du lịch nhân văn địa phương: Huyện lưu giữ nhiều làng nghề (mây tre đan và mộc Xuân Dương, tre trúc Thu Thủy, mộc Lai Cách, sơ chế Dược Hạ, mây tre đan Điệu Tân, hoa nhài Phù Lỗ) cùng hệ thống di tích lịch sử đã xếp hạng cấp quốc gia:
| STT |
Tên di tích |
Địa chỉ hành chính |
Năm xếp hạng |
| 1 |
Cụm di tích Đền Sóc |
Xã Vệ Linh |
1962 |
| 2 |
Đền Thanh Nhàn |
Xã Thanh Xuân |
1990 |
| 3 |
Đền Thụy Hương |
Xã Phú Cường |
1990 |
| 4 |
Đình Phù Xá Đoài |
Xã Phù Ninh |
1991 |
| 5 |
Đền Thắng Trí |
Xã Minh Trí |
1994 |
| 6 |
Đền Sọ |
Xã Phù Lỗ |
1997 |
| 7 |
Chùa Đại Bi |
Xã Xuân Thu |
1997 |
| 8 |
Đình Hạ Xuân Lai |
Xã Xuân Thu |
1997 |
| 9 |
Đình Hiền Linh |
Xã Hiền Linh |
1998 |
- Quần thể di tích Đền Sóc: Xếp hạng Di tích quốc gia năm 1962 và Di tích quốc gia đặc biệt ngày 31/12/2014. Quần thể gồm các hạng mục kiến trúc chính:
- Đền Trình: Xây dựng năm 980 thời Tiền Lê (vua Lê Đại Hành), kiến trúc chữ Đinh gồm Tiền đường (5 gian, 3 bia đá) và Hậu cung, thờ Quan Thần Linh Núi Sóc (Thánh Thần Vương).
- Đền Mẫu: Thờ thân mẫu Thánh Gióng, kết cấu 3 gian 2 nếp tường hồi bít đốc, phía trước có giếng Mẫu.
- Chùa Đại Bi: Thờ Phật, nơi tu hành của Khuông Việt Quốc Sư Ngô Chân Lưu (933–1011).
- Đền Thượng: Kiến trúc chuôi vồ 5 gian 2 chái, thờ Phù Đổng Thiên Vương và các vị quan phò tá, phía trước có tượng đôi Long Mã.
- Tượng đài Thánh Gióng: Đặt trên đỉnh núi Vệ Linh ở độ cao 302 m, khánh thành năm 2010 dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, đúc bằng đồng nguyên chất, trọng lượng 85 tấn.
- Nhà bia đá phiến: Xây dựng bằng đá phiến nguyên khối với mái chóp nón, lưu giữ văn bia lịch sử.
- Chùa Non Nước (Sóc Thiên Vương Thiền tự): Ngôi chùa cổ hơn 1.000 năm tuổi, được tôn tạo năm 2002 theo phong cách Tiền Lê gồm 7 gian 2 chái, sở hữu pho tượng Phật Tổ Như Lai bằng đồng đúc liền khối nặng 30 tấn, cao 8,4 m.
- Di sản phi vật thể Lễ hội Gióng: Được UNESCO công nhận ngày 16/11/2010 tại Nairobi (Kenya). Chính hội diễn ra từ ngày mùng 6 đến mùng 8 tháng Giêng âm lịch (đêm mùng 5 có lễ Dục Vọng; lễ Khai quang lúc nửa đêm). Tám thôn làng đại diện cho 6 xã thực hiện các lễ rước lễ vật dâng Đức Thánh: giò hoa tre (tre dài 50 cm, đường kính 1 cm vót xơ nhuộm màu), ngựa chiến, voi chiến, trầu cau, cỏ voi, ngà voi, rước tướng, cầu húc và tái hiện nghi thức chém tướng giặc Thạch Linh.
- Thực trạng hoạt động du lịch: Phân tích thực trạng về số lượt khách (Bảng 3.1) và doanh thu du lịch (Bảng 3.2) giai đoạn 2018–2022; đánh giá cơ cấu tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực và tính mùa vụ đậm nét trong hoạt động đón tiếp khách.
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hoạt động phát triển du lịch tại đền Sóc huyện Sóc Sơn, Hà Nội
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và cơ sở định hướng phát triển, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:
- Bảo tồn, cải tạo và đẩy mạnh khai thác di tích trong phát triển du lịch tâm linh.
- Phục dựng “Hội Gióng ở Đền Gióng huyện Sóc Sơn” ở tầm quốc gia theo kịch bản Sở Văn hóa – Thông tin Hà Nội xây dựng.
- Phát huy giá trị bền vững không gian Lễ hội Gióng phục vụ hoạt động du lịch.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh của đền Sóc – Lễ hội Gióng trên các kênh thông tin đại chúng.
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch (đặc biệt nâng cấp hệ thống cấp thoát nước, bãi đỗ xe và hạ tầng tiếp cận).
- Đa dạng các loại đặc sản, dịch vụ ăn uống phục vụ du khách thập phương.
- Bình ổn giá cả dịch vụ và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ du lịch bổ trợ.
- Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực du lịch tại chỗ.
- Thiết kế, xây dựng một số chương trình du lịch (tour) kết nối đền Sóc với các điểm du lịch sinh thái và văn hóa lân cận trên địa bàn Sóc Sơn và Hà Nội.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa các dữ liệu khoa học về tài nguyên và hoạt động du lịch tại khu vực nghiên cứu:
- Hệ thống hóa dữ liệu tài nguyên: Thống kê đầy đủ danh mục 9 di tích lịch sử tiêu biểu cấp quốc gia trên địa bàn huyện Sóc Sơn xếp hạng trong giai đoạn 1962–1998 (Bảng 2.1). Cung cấp các thông số kỹ thuật chính xác về cụm di tích Đền Sóc: tượng đài Thánh Gióng bằng đồng nặng 85 tấn tại độ cao 302 m; tượng Phật Tổ Như Lai chùa Non Nước đúc đồng liền khối nặng 30 tấn, cao 8,4 m; tỷ lệ hộ dân tiếp cận nước sạch tập trung toàn huyện đạt 30% (25.900 hộ tại 11 xã, thị trấn tính đến tháng 3/2023).
- Hệ thống giải pháp ứng dụng: Đề xuất 9 nhóm giải pháp cụ thể, nổi bật là việc kiến nghị phục dựng Lễ hội Gióng ở tầm quốc gia dựa trên kịch bản chuyên môn của Sở Văn hóa – Thông tin Hà Nội, gắn kết bảo tồn di sản phi vật thể với quy hoạch không gian bền vững và đề xuất xây dựng các tour du lịch cụ thể kết nối điểm đến.
- Đóng góp học thuật và thực tiễn: So với các nghiên cứu trước đây (như Vũ Thị Quỳnh Anh năm 2017 hay Bùi Thị Thu Vân năm 2015), khóa luận đã cập nhật chuỗi số liệu về lượt khách và doanh thu giai đoạn 2018–2022 (Bảng 3.1 và Bảng 3.2), qua đó phản ánh tác động của đại dịch Covid-19 và đưa ra góc nhìn lữ hành thực tế nhằm tái khởi động điểm đến đền Sóc sau khủng hoảng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dữ liệu nghiên cứu thực trạng tập trung trong khung thời gian 5 năm (2018–2022) – giai đoạn chịu sự biến động bất thường của đại dịch Covid-19, dẫn đến một số chỉ tiêu về lượt khách và doanh thu không mang tính đại diện cho chu kỳ tăng trưởng ổn định. Phạm vi khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu chủ yếu tập trung tại khu vực đền Sóc và các cán bộ địa phương, chưa mở rộng điều tra chọn mẫu số lớn đối với du khách ngoại tỉnh và khách quốc tế.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu liên kết vùng, tích hợp tuyến du lịch tâm linh đền Sóc với chuỗi du lịch sinh thái nghỉ dưỡng hồ Đồng Quan, núi Hàm Lợn và các điểm di tích lân cận thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Giang. Thực hiện khảo sát định lượng chuyên sâu về hành vi tiêu dùng và mức độ sẵn sàng chi trả của khách du lịch đối với các dịch vụ bổ trợ tại di tích.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Người học và nghiên cứu: Sinh viên ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản lý Văn hóa, Việt Nam học có thể tham khảo phương pháp tiếp cận đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn, cấu trúc kiến trúc cụm di tích và các thức vận hành di sản văn hóa phi vật thể phục vụ du lịch.
- Cơ quan quản lý: Ban quản lý Khu di tích Đền Sóc và UBND huyện Sóc Sơn có thể sử dụng các đề xuất về bình ổn giá, bảo vệ môi trường không gian lễ hội và quy hoạch kịch bản phục dựng Lễ hội Gióng cấp quốc gia để phục vụ công tác quản lý điểm đến.
- Doanh nghiệp lữ hành: Cung cấp tư liệu chi tiết về lịch sử, truyền thuyết, nghi thức lễ hội và cấu trúc điểm đến để các công ty lữ hành xây dựng bài thuyết minh du lịch và thiết kế các tour văn hóa - tâm linh ngắn ngày tại ngoại thành Hà Nội.
Câu hỏi thường gặp
1. Quần thể di tích Đền Sóc được xếp hạng di tích cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt vào thời điểm nào?
Quần thể di tích Đền Sóc được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào năm 1962. Đến ngày 31/12/2014, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định chính thức xếp hạng Đền Sóc là Di tích quốc gia đặc biệt.
2. Quần thể di tích lịch sử Đền Sóc bao gồm những công trình kiến trúc then chốt nào?
Quần thể trải dài từ chân núi lên đỉnh núi Vệ Linh, bao gồm các công trình: Đền Trình (thờ Quan Thần Linh Sóc Sơn), Đền Mẫu (thờ mẹ Thánh Gióng), Chùa Đại Bi (thờ Phật), Đền Thượng (thờ Phù Đổng Thiên Vương), Nhà bia đá phiến, Tượng đài Thánh Gióng bằng đồng trên đỉnh núi Vệ Linh, và Chùa Non Nước (Sóc Thiên Vương Thiền tự).
3. Lễ hội Gióng tại Đền Sóc được UNESCO ghi danh vào thời gian nào và có những lễ vật dâng cúng tiêu biểu nào?
Lễ hội Gióng tại Đền Sóc được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 16/11/2010 tại kỳ họp thứ 5 diễn ra ở Nairobi (Kenya). Lễ hội có sự tham gia của 8 thôn làng thuộc 6 xã, dâng cúng các lễ vật truyền thống gồm: giò hoa tre, ngựa chiến, voi chiến, trầu cau, cỏ voi, ngà voi, rước tướng và cầu húc.
4. Khóa luận sử dụng những phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập thông tin cụ thể nào?
Tác giả sử dụng kết hợp bốn phương pháp nghiên cứu chính: phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu thứ cấp; phương pháp nghiên cứu thực địa / khảo sát thực địa đánh giá tài nguyên theo tuyến; phương pháp phỏng vấn sâu đối với cán bộ cấp xã, huyện, ban quản lý di tích và người dân địa phương; và phương pháp xử lý số liệu thống kê.
5. Thực trạng hệ thống hạ tầng cấp nước sạch tại huyện Sóc Sơn được khóa luận ghi nhận như thế nào?
Theo số liệu từ UBND huyện Sóc Sơn được trích dẫn trong khóa luận, tính đến tháng 3/2023, toàn huyện mới có khoảng 25.900 hộ dân (chiếm khoảng 30% tổng số hộ) trên địa bàn 11 xã, thị trấn được tiếp cận nguồn nước sạch tập trung, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân của các quận, huyện khác trên địa bàn Hà Nội.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Trang Ninh đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững và đánh giá chi tiết tiềm năng tài nguyên tự nhiên, nhân văn tại quần thể di tích Đền Sóc, huyện Sóc Sơn. Thông qua việc phân tích thực trạng lượng khách, doanh thu và điều kiện hạ tầng kỹ thuật giai đoạn 2018–2022, nghiên cứu đã chỉ ra những điểm nghẽn về tính mùa vụ và hạ tầng dịch vụ tại địa phương. Các giải pháp được đề xuất mang tính hệ thống, từ công tác bảo tồn di sản, phục dựng lễ hội đến đào tạo nhân lực và phát triển tuyến điểm, cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác quản trị và khai thác du lịch văn hóa tâm linh tại Thủ đô Hà Nội.