Chương 1: Cơ sở lý luận, quan điểm và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Tiềm năng phát triển DLST tại khu vực Hồ Núi Cốc. Chương 3: Hiện trạng hoạt động Du lịch tại khu vực Hồ Núi Cốc. Chương 4: Định hướng và một số giải pháp phát triển Du lịch sinh thái khu vực Hồ Núi Cốc. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, QUAN ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1. Khái niệm Du lịch Trong lịch sử nhân loại, từ xa xƣa du lịch đƣợc coi là một hoạt động nghỉ ngơi tích cực, một sở thích của con ngƣời. Những hành vi du lịch đầu tiên xuất hiện nhƣ: cuộc hành trình của các nhà hiền triết quanh khu vực Địa Trung Hải để xác định ra bảy kỳ quan của thế giới cổ đại, hay các cuộc vi hành nhằm tìm hiểu nhân tình thế thái và thƣởng ngoạn những thắng cảnh của các vị Hoàng đế Trung Hoa cổ đại. Cho đến nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đƣợc trong đời sống văn hóa - xã hội của các nƣớc, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của mỗi vùng, mỗi quốc gia.
Trải qua quá trình phát triển, du lịch đƣợc mang nhiều định nghĩa khác nhau, do thời gian, khu vực khác nhau, góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngƣời có một cách hiểu du lịch khác nhau. Đầu tiên xuất phát từ thuật ngữ “tour” - bắt nguồn từ tiếng Pháp, có nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi và “touriste” là ngƣời đi dạo chơi. Đến khi “Hiệp hội các tổ chức du lịch quốc tế” đƣợc thành lập năm 1925 tại Hà Lan thì du lịch đƣợc hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm ngƣời rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến những vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh [13]. Nhìn chung những định nghĩa truyền thống chỉ xem du lịch nhƣ một kỳ nghỉ hoặc một chuyến đi để giải trí, làm phong phú thêm nhận thức của con ngƣời.
Cùng với thời gian và sự phát triển của xã hội, ngƣời ta nhận thấy yếu tố kinh tế không thể thiếu trong khái niệm du lịch. Khái niệm du lịch đã có những thay đổi phù hợp hơn, bao hàm các nội dung liên quan đến sự chuyển cƣ, những hoạt động tại nơi đến cũng nhƣ các vấn đề kinh tế xã hội liên quan. Gắn kết cả hai cách nhìn nhận về du lịch từ hai phía là ngƣời đi du lịch và ngƣời kinh doanh du lịch. Định nghĩa Tổ chức Du lịch thế giới WTO (World Travel Organization) đã xác định rõ “Du lịch là hành động rời khỏi nơi thƣờng trú để đi đến một nơi khác, một môi trƣờng khác trong một thời gian ngắn nhằm mục đích tìm hiểu, khám phá, vui chơi, giải trí, nghỉ dƣỡng”.
Một định nghĩa về du lịch đƣợc các nhà khoa học Việt Nam sử dụng nhiều đó là định nghĩa của I.I Piroogiơnic: “Du lịch là hoạt động của dân cƣ trong thời gian rảnh rỗi liên quan tới việc di chuyển và lƣu trú tạm thời bên ngoài nơi thƣờng trú nhằm mục đích nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức, văn hóa hoặc thể thao, kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ [8]. Theo Bách khoa toàn thƣ Việt Nam 1995: - Du lịch là một dạng nghỉ dƣỡng sức, tham quan tích cực của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật,…[12]. - Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nƣớc; đối với ngƣời nƣớc ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ…[12] Theo Luật du lịch Việt Nam, năm 2005, khái niệm du lịch đƣợc xác định chính thức nhƣ sau: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [7]. Nhƣ vậy, du lịch là một khái niệm bao gồm nhiều nội dung.
Một mặt, du lịch mang ý nghĩa là việc nghỉ ngơi, giải trí, liên quan mật thiết với sự di chuyển chỗ ở của khách du lịch. Mặt khác, du lịch đƣợc nhìn nhận nhƣ là hoạt động ngắn chặt với các hoạt động kinh tế - sản xuất, tiêu thụ những giá trị của lãnh thổ du lịch. Điều này cho ta cách nhìn nhận tổng hợp, toàn diện hơn về hoạt động du lịch. Du lịch không chỉ đƣợc xem xét trên khía cạnh lợi ích của khách du lịch mà quan trọng hơn là tác động của hoạt động du lịch đến lãnh thổ du lịch trên cả hai phƣơng diện kinh tế và xã hội.
Những vấn đề này nếu đƣợc giải quyết hợp lý sẽ đảm bảo đƣợc một nền du lịch bền vững và mang lại lợi ích tối đa cho cộng đồng. Khái niệm Du lịch sinh thái “Bước rón rén, chỉ chụp ảnh, và chỉ để lại dấu chân”. Đây chính là câu khẩu hiệu quen thuộc của Du lịch sinh thái. Lịch sử ngành lữ hành nói riêng và ngành du lịch nói chung đƣợc đánh dấu bằng sự kiện nhà du lịch và kinh tế ngƣời Anh Thomas Cook đã tổ chức chuyến tham quan đặc biệt bằng tàu hỏa từ Leicester đến Lafburoy với chặng đƣờng dài 12 dặm cho 570 khách đi dự hội nghị năm 1841 thì quan niệm về du lịch sinh thái xuất hiện muộn sau này.
Đặc biệt từ sau những năm 1980, trƣớc những ảnh hƣởng tiêu cực của các loại hình du lịch thông thƣờng đối với môi trƣờng sinh thái tự nhiên và nhân văn của các lãnh thổ du lịch. Một xu hƣớng du lịch mới đã nổi lên, thu hút đƣợc sự quan tâm của đông đảo giới khoa học cũng nhƣ các nhà quản lý du lịch, đó chính là Du lịch sinh thái. Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm rộng, đƣợc hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau. Đối với một số ngƣời, “Du lịch sinh thái” = “Du lịch” + “sinh thái”, đơn giản đƣợc hiểu là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép “du lịch” và “sinh thái” Nhìn ở góc độ rộng hơn, tổng quát hơn thì nhiều ngƣời quan niệm DLST là du lịch thiên nhiên.
Với khái niệm này, mọi hoạt động du lịch liên quan đến thiên nhiên nhƣ du lịch biển, du lịch núi, du lịch nông thôn…đều đƣợc hiểu là Du lịch sinh thái. Nhiều ý kiến cho rằng, DLST là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của các hệ sinh thái nơi diễn ra các hoạt động du lịch. Phải đến năm 1987, một định nghĩa tƣơng đối hoàn chỉnh đầu tiên đã đƣợc Ceballos - Lascurain đƣa ra: “DLST là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tha quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa đƣợc khám phá”. Định nghĩa này bao gồm du lịch văn hóa lẫn du lịch thiên nhiên.
Các nhà nghiên cứu khác đã đƣa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về Du lịch sinh thái. Nhƣng hầu hết đều phản ánh đƣợc những đặc điểm cơ bản của DLST là hoạt động du lịch đƣợc tiến hành hài hòa với thiên nhiên, bảo vệ môi trƣờng sinh thái, tập trung vào những lợi ích cho ngƣời bản địa.Ví dụ nhƣ: Theo Hội Du lịch Sinh thái quốc tế. “Du lịch sinh thái là một cuộc du lịch có trách nhiệm đến những vùng thiên nhiên mà bảo tồn đƣợc môi trƣờng và duy trì bền vững phúc lợi của nhân dân địa phƣơng”. Theo định nghĩa của Wood (1991): “Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tƣơng đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trƣờng tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái.
Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích tài chính cho ngƣời dân địa phƣơng”. Định nghĩa của Allen (1993): “Du lịch sinh thái đƣợc phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trƣờng và sinh thái, thông qua những hƣớng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. DLST tạo ra mối quan hệ giữa con ngƣời và thiên nhiên hoang dã cùng vói ý thức giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những ngƣời đi đầu trong công tác bảo vệ môi trƣờng. Phát triển DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trƣờng, đảm bảo cho địa phƣơng đƣợc hƣởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên”.
Theo Hội đồng Tƣ vấn Môi trƣờng Canada: “Du lịch sinh thái là một trải nghiệm du lịch thiên nhiên mang lại thông tin bổ ích và góp phần vào việc bảo tồn hệ thống sinh thái, trong khi đó tôn trọng tình trạng nguyên vẹn của các cộng đồng chủ nhà”. Định nghĩa của Vụ Du lịch Autralia: “Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào tự nhiên trong đó bao gồm nhân tố giáo dục môi trƣờng và đƣợc quản lý cho sự phát triển bền vững”. Trong định nghĩa này đã nhấn mạnh yếu tố quản lý bền vững vào giáo dục môi trƣờng. Có rất nhiều định nghĩa khác về Du lịch sinh thái, trong đó Buckley đã tổng quát nhƣ sau: “Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên, đƣợc quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn và có giáo dục môi trƣờng mới đƣợc xem là DLST”.
Tại Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới đƣợc nghiên cứu từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, đã thu hút đƣợc sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trƣờng. Do trình độ nhận thức khác nhau, cách nhìn nhận vấn đề khác nhau nên khái niệm về DLST cũng còn nhiều điểm chƣa thống nhất. Nhiều cuộc hội thảo chuyên đề đƣợc tổ với sự tham gia của các nhà nghiên cứu trong và ngoài ngành đã đƣa ra những khái niệm khác nhau về DLST.