Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động du lịch đóng vai trò là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí và giải quyết việc làm. Tuy nhiên, tình trạng khai thác ồ ạt, chạy theo lợi nhuận trước mắt, thiếu luận cứ khoa học đã tạo ra những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên và bản sắc văn hóa bản địa. Xu hướng du lịch sinh thái (DLST) xuất hiện trên thế giới từ những năm 1970 và du nhập vào Việt Nam từ đầu thập niên 1990 được xem là phương thức du lịch có trách nhiệm, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Khu vực Hồ Núi Cốc thuộc tỉnh Thái Nguyên có vị trí cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 15 km về phía Tây, với diện tích mặt nước hồ nhân tạo khoảng 2.500 ha được hình thành từ công trình đắp đập ngăn dòng sông Công (khởi công năm 1972, hoàn thành năm 1978). Từ thập niên 1990, khu vực này bắt đầu được đưa vào khai thác du lịch. Quá trình phát triển du lịch tự phát những năm qua đã làm suy giảm chức năng của nhiều hệ sinh thái dưới nước và trên cạn, làm mai một các giá trị văn hóa truyền thống và xuống cấp một số di tích lịch sử đã được xếp hạng, đe dọa sức hấp dẫn của điểm đến trong dài hạn.

Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá toàn diện tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch tại khu vực Hồ Núi Cốc, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm khai thác hợp lý các nguồn lực để phát triển du lịch sinh thái bền vững.

Đề tài đặt ra 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về du lịch sinh thái.
  2. Khảo sát, nghiên cứu và đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái khu vực Hồ Núi Cốc.
  3. Đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch tại khu vực nghiên cứu dựa trên các nguyên tắc của du lịch sinh thái; làm rõ mặt mạnh và tồn tại.
  4. Định hướng và đề xuất các nhóm giải pháp khai thác hợp lý tiềm năng nhằm phát triển du lịch sinh thái tại địa phương.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian nghiên cứu: Bao gồm toàn bộ diện tích mặt nước và các đảo nổi thuộc địa giới hành chính của 12 xã thuộc 3 đơn vị cấp huyện của tỉnh Thái Nguyên: các xã Hùng Sơn, Tân Thái, Lục Ba, Vạn Thọ, Bình Thuận, Ký Phú, Văn Yên, Cát Nê (huyện Đại Từ); xã Phúc Tân (thị xã/huyện Phổ Yên); các xã Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân (thành phố Thái Nguyên), với tổng quy mô lãnh thổ hơn 22.500 ha.
  • Nội dung nghiên cứu: Tập trung đánh giá tiềm năng tự nhiên, nhân văn và thực trạng khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển du lịch sinh thái.
  • Thời gian nghiên cứu: Đề tài thu thập số liệu thực địa, dữ liệu kinh tế - du lịch giai đoạn 2008 đến tháng 6 năm 2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận

Khóa luận tổng thuật có hệ thống các khái niệm cốt lõi:

  • Khái niệm "Du lịch": Đối chiếu giữa các định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), định nghĩa kinh điển của I.I. Piroozhnik (1985), Bách khoa toàn thư Việt Nam (1995) và quy định pháp lý tại Luật Du lịch Việt Nam năm 2005.
  • Khái niệm "Du lịch sinh thái": Khảo cứu các luận điểm từ Hector Ceballos-Lascurain (1987), Hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES), Megan Wood (1991), Allen (1993), Buckley, định nghĩa của Hội thảo quốc gia năm 1999 tại Việt Nam, và Điều 4 Khoản 19 Luật Du lịch Việt Nam 2005. Tác giả nhìn nhận du lịch sinh thái không đơn thuần là một loại hình du lịch mà là một "quan điểm du lịch", một định hướng bảo tồn và chia sẻ lợi ích.

Tác giả xác lập nghiên cứu dựa trên 5 quan điểm khoa học:

  • Quan điểm du lịch sinh thái (xem du lịch có trách nhiệm là nguyên tắc định hướng mọi hành vi khai thác);
  • Quan điểm hệ thống (đặt tài nguyên và hoạt động du lịch trong mối liên hệ hữu cơ với hệ thống tự nhiên - kinh tế - xã hội vùng);
  • Quan điểm tổng hợp lãnh thổ (phân tích đa chiều các nhân tố địa lý, văn hóa, tài nguyên);
  • Quan điểm kinh tế - sinh thái bền vững (kết hợp hài hòa giữa sinh kế cộng đồng và ngưỡng chịu tải môi trường);
  • Quan điểm lịch sử (phân tích tiến trình hình thành hệ sinh thái và không gian văn hóa bản địa).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp địa lý du lịch và xã hội học:

  • Phương pháp khảo sát thực địa: Khảo sát địa hình, cảnh quan lòng hồ, các hệ sinh thái rừng, hạ tầng giao thông và các cơ sở kinh doanh dịch vụ tại 12 xã.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp 2 nhóm đối tượng trọng tâm gồm khách du lịch (nội địa, quốc tế) và người dân địa phương sinh sống quanh khu vực hồ.
  • Phương pháp thống kê và phân tích tài liệu: Thu thập và xử lý các chuỗi số liệu thứ cấp, văn bản báo cáo từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Nguyên, Ban quản lý Khu du lịch Hồ Núi Cốc, Ban quản lý Rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Nguyên; kế thừa dữ liệu sinh thái học của Phan Hữu Tường (1993).
  • Phương pháp phân tích tổng hợp: Tổng hợp các lớp thông tin địa lý, tài nguyên, dân cư và chỉ số du lịch để đưa ra các nhận định đánh giá hiện trạng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận, quan điểm và phương pháp nghiên cứu

Chương 1 khái quát quá trình phát triển của ngành du lịch từ chuyến du lịch bằng tàu hỏa năm 1841 của Thomas Cook đến các hình thái du lịch đương đại. Tác giả phân tích tính nhạy cảm của tài nguyên du lịch sinh thái trước các tác động nhân sinh, tính chu kỳ phụ thuộc vào nhịp điệu mùa của khí hậu, tính chất khai thác tại chỗ và khả năng phục hồi của tài nguyên thiên nhiên.

Chương này xác định 4 nguyên tắc hoạt động cốt lõi của du lịch sinh thái:

  1. Thận trọng trong việc sử dụng nguồn tài nguyên môi trường, hỗ trợ bảo tồn và giảm thiểu ô nhiễm;
  2. Phát triển không làm tổn hại đến nền văn hóa và đời sống xã hội bản địa;
  3. Tạo lợi ích kinh tế lâu dài cho cộng đồng địa phương thông qua giải quyết việc làm và trao quyền làm chủ;
  4. Cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, nâng cao nhận thức giáo dục môi trường cho du khách.

Bên cạnh đó, chương 1 phân loại các nhóm hệ sinh thái tiềm năng cho du lịch sinh thái tại Việt Nam (rừng nhiệt đới, núi cao, đất ngập nước, biển đảo, vùng cát ven biển, nông nghiệp và các di tích tự nhiên).

Chương 2: Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc

Chương 2 mô tả chi tiết các yếu tố cấu thành tài nguyên tự nhiên và nhân văn của khu vực Hồ Núi Cốc (tọa độ từ 105°33' đến 105°45' kinh Đông, 21°29' đến 21°40' vĩ độ Bắc):

Yếu tố tài nguyên Đặc điểm định lượng và hiện trạng theo ghi nhận của khóa luận
Địa hình - Địa chất Vùng đồi núi thấp chuyển tiếp giữa bậc thềm phù sa cổ Đông Nam và núi cao Tây Bắc. Đỉnh núi Pháo (~500m), dãy Thằn Lằn (~497m), sườn Đông Tam Đảo (<1500m). Nền trầm tích phiến thạch sét, sỏi sạn kết nghèo dinh dưỡng.
Khí hậu - Thủy văn Nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh; lưu vực sông Công dài 96 km, diện tích 2.951 km², lưu lượng trung bình 17,2 m³/s. Hồ Núi Cốc có dung tích thiết kế 175,5 triệu m³, mực nước trung bình 46,2m; gồm 1 đập chính (dài 480m, cao 49m) và 6 đập phụ; 4 kênh lấy nước (kênh Chính 18 km, kênh Tây 18 km, kênh Giữa 20 km, kênh Đông 9 km). Hồ Vai Miếu diện tích 250 ha.
Hệ sinh thái rừng tự nhiên Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới đai núi thấp (5 tầng cấu trúc): ghi nhận 64 loài thú, 239 loài chim, 76 loài bò sát, 28 loài lưỡng cư, 437 loài côn trùng. Rừng phục hồi tự nhiên (~400 ha, độ cao 250-450m), mật độ 3.500 - 4.000 cây/ha với trên 60 loài cây gỗ (họ Re 12 loài, Dâu tằm 7 loài, Dẻ 5 loài).
Hệ sinh thái rừng trồng Rừng Keo lá tràm và Keo tai tượng (~300 ha, 5-10 năm tuổi, mật độ 800-1000 cây/ha); Rừng Bạch đàn trắng (>1000 ha, trồng theo dự án PAM 1989-1993, mật độ 600-800 cây/ha, khả năng tái sinh và sinh khối thấp).
Hệ sinh thái thủy vực Hồ Núi Cốc Nhiệt độ nước: mùa đông 18-20°C, mùa hè 33-34°C. Độ trong 0,7-1,9m; pH từ 7,0-7,8. Oxy hòa tan 2,6-7,9 mg/l. Ghi nhận 73 loài thực vật nổi (tảo lục chiếm 32 loài), 40 loài động vật nổi, 27 loài động vật đáy; khu hệ cá gồm 63 loài cá tự nhiên (họ Chép chiếm 76,2% với 48 loài, cá Vược 14,2%) và các loài cá nuôi thả. Có gần 90 đảo nổi.
Dân cư - Xã hội Dân số khu vực 1.149,1 nghìn người, diện tích 3.534,4 km², mật độ bình quân 325 người/km² (Tân Thái cao nhất 662 người/km², Phúc Tân thấp nhất 90 người/km²). Tỷ lệ dân tộc: Kinh 92%, Tày 3,1%, Nùng 1,7%, Dao và Mường 1,3%, Sán Dìu 1,2%. Lao động trong độ tuổi chiếm 51,4%, lao động phụ chiếm 14%.
Văn hóa bản địa & Di tích Nghệ thuật dân gian (hát Then, Sli, Lượn); huyền thoại Chàng Cốc - Nàng Công, Chuyện tình ba cây thông; làng nghề trồng và chế biến chè Tân Cương; các phiên chợ quê. Di tích cấp quốc gia Núi Văn - Núi Võ; Di tích lịch sử 27/7 tại Hùng Sơn (xếp hạng 1977, diện tích 3.000 m², bia đá nặng gần 7 tấn); Di tích Gò Pháo; Chùa Yna (gần 100 năm); Nhà thờ Gò Pháo (>1 ha); Miếu cổ hồ Vai Miếu (trùng tu 1993).
Hạ tầng giao thông Tỉnh lộ 253 nối từ thành phố Thái Nguyên qua ngã ba Đán: nhánh TL260 vào Đông Bắc hồ (mặt đường rộng 14m, bê tông nhựa); nhánh đi Nam hồ vào khu vực nhà nghỉ Nam Phương.

Chương 3: Hiện trạng hoạt động du lịch tại khu vực Hồ Núi Cốc

Chương 3 tập trung phân tích các chỉ số phát triển du lịch của khu vực trong giai đoạn 2008 đến 6 tháng đầu năm 2011 thông qua chuỗi số liệu thống kê (khách du lịch, cơ cấu khách nội địa và quốc tế, khách sử dụng dịch vụ tàu thuyền trên hồ, chỉ số doanh thu du lịch, cơ sở lưu trú và lao động du lịch).

Nội dung trọng tâm là đánh giá mức độ đáp ứng các nguyên tắc du lịch sinh thái:

  • Mức độ hài lòng của du khách: Đánh giá chất lượng dịch vụ vận chuyển, ăn uống, lưu trú và các điểm tham quan theo kết quả điều tra xã hội học.
  • Hoạt động giáo dục môi trường: Phân tích sự thiếu vắng của đội ngũ thuyết minh viên chuyên nghiệp, thiếu các tài liệu hướng dẫn và bảng chỉ dẫn diễn giải môi trường tại các đảo và các tuyến rừng.
  • Hỗ trợ công tác bảo tồn: Hoạt động du lịch chưa trích lập được nguồn tài chính tái đầu tư cho việc bảo vệ sinh cảnh tự nhiên, tình trạng khai thác gỗ keo rộ làm biến đổi cảnh quan đồi bao quanh hồ, xả rác thải cục bộ từ tàu thuyền và du khách.
  • Bảo tồn bản sắc văn hóa: Việc phục dựng các câu chuyện thần thoại dưới hình thức công trình nhân tạo (Huyền Thoại Cung, Động Ba Cây Thông) bước đầu hỗ trợ trực quan hóa văn hóa nhưng có nguy cơ làm phai nhạt các giá trị diễn xướng dân gian thực tế; các làng nghề chè chưa được kết nối đồng bộ thành tour sinh thái trải nghiệm.
  • Sinh kế cộng đồng: Đa số người dân bản địa chỉ tham gia ở các mắt xích dịch vụ bán lẻ, tự phát; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghiệp vụ du lịch còn rất thấp, chưa chủ động làm chủ chuỗi giá trị dịch vụ.

Chương 4: Định hướng và một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái khu vực Hồ Núi Cốc

Trên cơ sở phân tích tiềm năng và những mặt tồn tại, chương 4 xác lập các định hướng phát triển bền vững không gian du lịch Hồ Núi Cốc gắn với quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên:

  • Định hướng không gian và sản phẩm: Xây dựng các tuyến du lịch gắn kết giữa tham quan mặt hồ, khám phá đảo nổi với các tuyến đi bộ nghiên cứu rừng tự nhiên dưới chân dãy Tam Đảo, du lịch sinh thái làng nghề chè Tân Cương và các điểm di tích văn hóa lịch sử (Núi Văn - Núi Võ, di tích 27/7).
  • Nhóm giải pháp cơ chế chính sách và xúc tiến đầu tư: Tăng cường phối hợp quản lý liên ngành giữa Ban quản lý du lịch, Ban quản lý rừng phòng hộ và chính quyền 12 xã; thiết lập quy chế bảo vệ cảnh quan mặt nước và đất ngập nước; huy động các nguồn vốn đầu tư hạ tầng xanh, giao thông kết nối.
  • Nhóm giải pháp đào tạo nguồn nhân lực: Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn viên sinh thái, trang bị kỹ năng diễn giải môi trường cho nhân viên phục vụ; nâng cao nhận thức bảo tồn cho đội ngũ lái tàu, thuyền chuyên chở khách.
  • Nhóm giải pháp cộng đồng: Xây dựng cơ chế khuyến khích người dân bản địa (đặc biệt là các cộng đồng dân tộc Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu) tham gia cung cấp dịch vụ lưu trú tại nhà dân (homestay), cung cấp nông sản, chế biến chè đặc sản và tham gia vào lực lượng tuần tra, bảo vệ rừng tự nhiên.

Kết quả và đóng góp

  1. Về mặt tư liệu khoa học: Khóa luận đã hệ thống hóa và cập nhật toàn bộ cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiên, địa hình, đặc trưng thủy lý - thủy hóa và tính đa dạng sinh học của Hồ Núi Cốc (73 giống loài thực vật nổi, 40 loài động vật nổi, 63 loài cá tự nhiên, 64 loài thú, 239 loài chim ở vùng phụ cận). Đây là tài liệu thống kê chuyên sâu về địa lý du lịch sinh thái cho địa bàn nghiên cứu tại thời điểm 2011.
  2. Về mặt đánh giá thực tiễn: Khóa luận chỉ ra mâu thuẫn giữa tốc độ phát triển du lịch đại trà với việc duy trì tính toàn vẹn của các hệ sinh thái lòng hồ; chỉ rõ thực trạng suy giảm lớp phủ rừng do khai thác rừng trồng (keo, bạch đàn PAM) mà thiếu biện pháp phục hồi cây bản địa, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước và nguy cơ phai nhạt các di tích lịch sử cách mạng như cứ điểm Gò Pháo.
  3. Về mặt định hướng ứng dụng: Đề tài đã chuyển hóa các nguyên tắc lý luận của du lịch sinh thái thành khung hành động cụ thể cho địa bàn Hồ Núi Cốc, đề xuất các nhóm giải pháp gắn kết giữa sinh thái hồ, sinh thái rừng Tam Đảo với văn hóa trà Tân Cương, đặt người dân địa phương làm trung tâm hưởng lợi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Khóa luận được hoàn thành trong khuôn khổ thời gian giới hạn (từ 11/04/2011 đến 26/06/2011) với nguồn lực của sinh viên đại học trên một địa bàn hành chính rất rộng (hơn 22.500 ha, bao gồm 12 xã thuộc 3 huyện, thị, thành phố).
    • Các dữ liệu thủy sinh vật, chất lượng môi trường nước phần lớn được kế thừa từ các tài liệu nghiên cứu trước đó (Sở Nông nghiệp & PTNT Thái Nguyên năm 1993, kết quả khảo sát của Phan Hữu Tường) mà chưa có điều kiện quan trắc hóa nghiệm mẫu sinh hóa độc lập tại thời điểm làm khóa luận.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Cần triển khai các nghiên cứu thực nghiệm định lượng về sức chứa du lịch (sức chứa sinh thái, sức chứa tâm lý du khách) cho các tuyến tham quan trên mặt hồ và các đảo nổi.
    • Xây dựng mô hình chuỗi giá trị du lịch sinh thái nông nghiệp chuyên sâu tại các làng chè đặc sản Tân Cương gắn với chỉ dẫn địa lý và thương hiệu chè Thái Nguyên.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, giảng viên và học viên cao học thuộc các ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Địa lý Du lịch, Quản lý Tài nguyên Môi trường.
  • Nội dung giá trị nhất: Chương 2 của khóa luận cung cấp bức tranh chi tiết về địa lý tự nhiên, sinh thái học thủy vực, danh mục động thực vật và hệ thống di tích lịch sử nhân văn phân bố quanh hồ. Khung đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch theo 5 nguyên tắc du lịch sinh thái ở Chương 3 là gợi ý tốt cho các đề tài nghiên cứu ứng dụng đánh giá tính bền vững tại các khu du lịch hồ chứa nhân tạo.

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi địa giới hành chính của khu vực Hồ Núi Cốc được xác định như thế nào trong khóa luận?

Khu vực nghiên cứu có quy mô diện tích hơn 22.500 ha (diện tích mặt nước hồ trung bình 2.500 ha), bao gồm toàn bộ địa giới của 12 xã: Hùng Sơn, Tân Thái, Lục Ba, Vạn Thọ, Bình Thuận, Ký Phú, Văn Yên, Cát Nê (huyện Đại Từ); Phúc Tân (thị xã Phổ Yên); Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân (thành phố Thái Nguyên).

2. Các thông số thủy lý - thủy hóa và hệ sinh thái thủy sinh nổi bật của Hồ Núi Cốc gồm những gì?

Hồ chứa có dung tích trung bình 175,5 triệu m³, mực nước trung bình 46,2m. Nhiệt độ nước dao động 18-20°C (mùa đông) và 33-34°C (mùa hè); độ trong từ 0,7-1,9m; pH dao động 7,0-7,8; oxy hòa tan tầng mặt đạt tới 7,68 mg/l. Thủy sinh vật ghi nhận 73 giống loài thực vật nổi (32 giống tảo lục), 40 loài động vật nổi, 27 loài động vật đáy và 63 loài cá tự nhiên (trong đó họ cá Chép chiếm 76,2% với 48 loài).

3. Những di tích lịch sử và công trình kiến trúc tâm linh nào được khảo cứu tại vùng hồ?

Khóa luận thống kê các di tích tiêu biểu: Quần thể di tích lịch sử cấp quốc gia Núi Văn - Núi Võ (gắn liền với danh tướng Lưu Nhân Chú); Khu di tích lịch sử 27/7 tại xã Hùng Sơn (nơi công bố ngày Thương binh Liệt sĩ toàn quốc năm 1947, xếp hạng cấp quốc gia năm 1977); Cứ điểm Gò Pháo (cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917); Chùa Yna (gần 100 năm tuổi); Nhà thờ Gò Pháo (thành lập từ 1938); và ngôi Miếu cổ dưới chân đập hồ Vai Miếu.

4. Tác giả áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể nào?

Khóa luận sử dụng 4 phương pháp chính: Khảo sát thực địa (quan sát cảnh quan, hạ tầng, tiếp xúc ban quản lý và người dân); Thống kê và phân tích tài liệu (xử lý chuỗi số liệu từ các cơ quan quản lý nhà nước); Phân tích tổng hợp (tổ hợp tài liệu và số liệu điều tra); và Điều tra xã hội học (phỏng vấn bảng hỏi đối với khách du lịch và người dân địa phương).

5. Hiện trạng hoạt động du lịch Hồ Núi Cốc được soi chiếu qua những nguyên tắc nào của du lịch sinh thái?

Tác giả đánh giá dựa trên 5 khía cạnh cốt lõi: Khả năng đáp ứng nhu cầu du khách; Mức độ tổ chức hoạt động giáo dục môi trường; Đóng góp thực tế hỗ trợ công tác bảo tồn và duy trì hệ sinh thái; Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng; Cơ chế tạo việc làm và hỗ trợ kinh tế cho cộng đồng cư dân địa phương.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Khổng Thị Hiền là một công trình nghiên cứu địa lý du lịch hoàn chỉnh, kết hợp hài hòa giữa cơ sở lý luận về du lịch có trách nhiệm với bức tranh thực tiễn tại vùng lòng hồ nhân tạo Hồ Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên. Bằng hệ thống dữ liệu tự nhiên, sinh thái và văn hóa lịch sử phong phú, tác giả đã chỉ rõ những nguy cơ suy giảm tính bền vững của mô hình du lịch hiện hành, đồng thời đề xuất các nhóm định hướng và giải pháp cụ thể nhằm phục hồi cảnh quan và nâng cao sinh kế cộng đồng. Công trình có giá trị tham khảo thiết thực cho các nghiên cứu về quy hoạch và quản lý phát triển du lịch sinh thái tại các vùng hồ chứa cảnh quan ở trung du và miền núi phía Bắc.