mở đầu cho những năm tháng tiếp theo trong việc khai hoang, lập ấp. Đặc biệt tư liệu còn cho chúng ta nguồn thông tin quý giá: “Cảnh Dương” là tên gốc của trang Cảnh Dương huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Đó cũng chính là quê gốc của người Cảnh Dương. Mảnh đất đầu tiên mà sáu vị tổ đặt chân đến chính là xã Thuần Thần, châu Bố Chính.
Sau ba năm kể từ ngày sáu vị tổ đặt bước chân đầu tiên lên vùng đất này, năm 1647 đã có thêm 4 người nữa đến sinh cơ lập nghiệp: “Ngày 20 tháng 9 năm Đinh Hợi, Phúc Thái thứ 5 (1647) Phạm Văn An, Phạm Văn Hảo, Võ Văn Lan, Phạm Khắc Hoành lại cùng vào sinh sống, lập nghiệp với các ngài Nguyễn 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Và đến năm 1653 (tức là sau 10 năm kể từ ngày lập làng) số lượng đã tăng lên là 19 người: “Ngày 8 tháng 6 năm Quý Tỵ, Thịnh Đức thứ nhất (1653), các ông Đỗ Phú Thanh, Đỗ Văn La, Trương Văn Trác, Trương Văn Pháo, Võ Văn Nhiên, Nguyễn Văn Vệ (hay Thuật)… gồm 20 người đến xứ Cồn Dưa cùng vào cư trú với các tiền bối”. Như vậy có thể thấy sau 10 năm, vùng đất này đã “đón tiếp” thêm những dấu chân đến khai phá và viết nên những trang lịch sử mới cho làng. Sau này dân làng Cảnh Dương đã lập bia đá tôn vinh và xây Đình Tổ để thờ các vị tổ đã có công lập làng (Nay Đình Tổ không còn (bị chiến tranh tàn phá) nên dân làng đã xây dựng Đình Tổ mới và đặt bài vị thờ các vị tiền hiền ở đây).
Các vị được thờ tự bao gồm: Bảy vị tiền hiền khai khẩn (Nguyễn Văn An, Ngô Cảnh Xuân, Nguyễn Văn Đức, Đỗ Phú Thanh, Vũ Văn Nhiên, Phạm Khắc Hoành, Trương Văn Trác) và thập nhị vị tiền hiền đồng khẩn (Nguyễn Văn Yên, Phạm Văn Ánh, Trương Văn Pháp, Phạm Văn Hữu, Đỗ Văn La, Vũ Văn Vượng, Nguyễn Văn Lẫm, Phạm Văn Hảo, Ngô Văn Hoà, Phạm Văn Sào, Ngô Phúc Lai, Vũ Văn Lan). Một sự kiện có ý nghĩa quan trọng nữa đó là việc quyết định chuyển từ Cồn Dưa (đã sinh sống được 12 năm) sang bờ Nam sông Ròn, chọn xứ Lòi Mắm làm nơi định cư lâu dài. “Mùa xuân tháng 2 năm Ất Mùi, Thịnh Đức thứ 3 (1655), các ông Nguyễn Văn An, Đỗ Phú Thanh dời đến xứ Lòi Mắm dọc bờ sông làng Di Phúc (tức nay là đất làng ta). Lúc đó được 20 người, dựng nhà cửa, từ đó số người dần đông”.
Phải chăng đây là sự lựa chọn sáng suốt thể hiện tầm nhìn, tài trí của các bậc tiền bối? Sở dĩ đặt ra câu hỏi như vậy bởi xứ Lòi Mắm (Cảnh Dương ngày nay) ẩn chứa rất nhiều tiềm năng mà đến tận bây giờ nó đã được khẳng định qua sự phát triển kinh tế, văn hoá của làng trong những bước đi của lịch sử. "Người Cảnh Dương khi đặt chân lên mảnh đất này là hướng ra 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biển, biển cả bao la vẫy gọi, nuôi sống và rèn luyện con người mang đầy đủ những đức tính lanh lợi, dũng cảm, sáng dạ, nhạy cảm trước cái mới". Chính mảnh đất này đã tạo nên một Cảnh Dương rất riêng với cuộc sống gắn liền với biển cả, với những thế mạnh về phát triển nghề chài lưới, với những con người dẻo dai, mạnh mẽ, thông minh…. để chúng ta có Cảnh Dương trù phú, giàu có như hôm nay.
“Sự thịnh đạt của làng biển bên bờ sông Loan này (…) là một minh chứng hết sức thuyết phục cho sự sáng suốt và tầm nhìn xa, trông rộng của các bậc tiền bối làng Cảnh Dương trong việc chọn đất, lập làng” [27, 17], “tiếp cận với biển là một yêu cầu của người làm nghề chài lưới. Làng Cảnh Dương ngày nay có nhiều ưu thế: cảnh quan đẹp, chài lưới thuận lợi, bố phòng tốt, thuyền bè kín gió, đó phải chăng là tầm nhìn chiến lược của người xưa” [73, 27]. Với những nhận xét trên, có thể khẳng định rằng người dân ngày xưa và hôm nay luôn tự hào và biết ơn công lao mở đất, lập làng của các vị tiền hiền, chính tên đất, tên người ấy đã tạo nên diện mạo của làng biển này hôm nay và mãi mãi về sau. Nếu năm 1643, năm 1655… đều đánh dấu sự kiện quan trọng của làng thì đến năm 1658, tên làng đã được ra đời và hai tiếng “Cảnh Dương” cũng vang lên từ thời khắc đó.
Việc đặt tên làng như một lời nhắn gửi chính thức đến tất cả mọi người, mọi nơi rằng tại đây, ở vùng đất này Cảnh Dương đã khẳng định về “chủ quyền”, về “lãnh thổ” và xưng danh với các làng, các vùng khác. Đối với nhân dân nơi đây, “Hai chữ Cảnh Dương vừa đẹp về tên chữ, vừa đẹp về ước mơ”, thể hiện khát khao muốn khẳng định mình. Cảnh Dƣơng dƣới các triều đại phong kiến + Về kinh tế Với vị trí địa lý “phía đông là biển cả bao la”, Cảnh Dương đã nhanh chóng phát huy lợi thế và khai thác tiềm năng về biển. Ngày từ những ngày đầu lập làng, các vị tiền bối đã “chọn” nghề chài lưới làm kế sinh nhai.
Chính vì thế sau thời gian khi số lượng dân ngày càng tăng, các dụng cụ phục vụ cho hoạt động khai thác hải sản nhiều hơn, quy mô hơn thì cũng là lúc kinh tế của Cảnh 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dương bắt đầu khởi sắc. Làng biển trù phú này đã được nhắc đến trong các tác phẩm nổi tiếng (như đã nêu ở phần trên) với thế mạnh về nghề đi biển của mình. Với nghề nghiệp chủ yếu của họ là đánh bắt tôm cá, chế biến hải sản, buôn bán và hàng hải, người dân nơi đây đã nhanh chóng xây dựng cho làng nền tảng kinh tế vững chắc. Tác phẩm Bổn xã khai khẩn truyện ký đã ghi nhận điều đó: “Tháng 4 năm Nhâm Dần, Vĩnh Thọ thứ nhất (1662) đã viết bộ đinh được 47 suất, ghe buôn được 4 chiếc, ghe chài được 6 chiếc” và “tháng 4 năm Giáp Thìn, Cảnh Trị thứ hai (1664) làng được phân bố thuế Hàm Hương, hàng năm dâng nạp…”.
Với số lượng ghe chài, ghe buôn và cống mắm Hàm hương đã phần nào phản ánh đời sống kinh tế Cảnh Dương lúc bấy giờ. “Nghề buôn thuyền và nghề làm nước mắm lúc này đã phát triển” [73, 30]. Mặc dù chỉ mới 19 năm kể từ ngày khai khẩn mảnh đất này, người dân đã biết tạo lập và phát triển cho mình nghề nghiệp ổn định, tạo được tên tuổi về sản phẩm mắm Hàm Hương - một trong những sản phẩm nổi tiếng của làng dâng lên cho triều đình (sau này đến năm 1670, mắm Hàm hương đem dâng nộp cho Đại mẫu quốc vương (mẹ vua). Đến triều đại Tây Sơn, kinh tế của Cảnh Dương có những bước phát triển nhất định, điều đó đã được thể hiện qua việc nhân dân đóng góp, ủng hộ cho đội quân nhà Tây Sơn.
“Nhân dân Cảnh Dương đã đón tiếp đoàn quân của Nguyễn Huệ với một niềm cảm kích” [73, 32]. Không chỉ cổ động về mặt tinh thần mà hoà chung phong trào của nhân dân tỉnh Quảng Bình, người dân ở đây đã đem cả “nhân tài, vật lực” phục vụ phong trào Tây Sơn, cụ thể trong cuộc chiến chinh của ba anh em nhà Tây Sơn đã có sự góp mặt của 5 chiếc ghe Tràng Đà và 50 người con của Cảnh Dương, cùng với sự xuất hiện và tồn tại của chiếc chuông “Hồng chung, cảnh viện” suốt mấy trăm năm đã minh chứng cho tấm lòng của nhân dân Cảnh Dương đối với nhà Tây Sơn. Nó vừa phản ánh tình cảm của người dân nơi đây nhưng đồng thời thể hiện tiềm năng kinh tế rất lớn của Cảnh Dương: “Phải nhìn thấy sức mạnh kinh tế, xã hội của một làng như thế nào mới đủ sức làm được những việc to lớn ghi lại truyền thống cho mai sau” [73, 33]. Tác giả Trần Đình Vĩnh đã có nhận xét khi đọc những lời cầu nguyện do giám sinh Nguyễn Đức Quýnh soạn được khắc trên quả chuông.
21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dưới triều Nguyễn, kinh tế Cảnh Dương đã có những bước phát triển vượt bậc. Các nghề truyền thống như nghề đánh bắt tôm cá, nghề làm nước mắm… đã đem lại rất nhiều nguồn lợi cho làng. Nhân dân không những đã tích luỹ nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong việc khai thác tiềm năng về biển mà còn không ngừng nâng cao kỹ năng chế biến hải sản, những sản phẩm của làng đã được nhiều nơi biết đến, thậm chí những vùng xa xôi như Phan Thiết, Nam Định… Ngoài ra, người dân đã biết dựa vào vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế, lưu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy buôn bán. Về đường bộ, nằm trên trục đường xuyên suốt bắc nam nên nơi đây khá dễ dàng trong việc mở rộng mối quan hệ làm ăn, buôn bán, vận chuyển.
Đặc biệt là đường thuỷ, Cảnh Dương không những khai thác vùng miền Bắc mà còn mở rộng địa bàn buôn bán về hướng nam, đưa sản phẩm của Cảnh Dương đến với nhiều vùng miền của đất nước, đồng thời buôn về những mặt hàng rất phong phú, phục vụ ngày càng tốt hơn đời sống sinh hoạt vật chất cũng như tinh thần của nhân dân. Tóm lại, kinh tế Cảnh Dương dưới các triều đại phong kiến từng bước đã có sự khởi sắc, dần khẳng định vị trí của mình. Nhân dân của làng bằng chính lòng quyết tâm, tinh thần vượt khó, sẵn sàng đối mặt với thử thách, gian khổ để tự tạo nên một diện mạo rất riêng mảnh đất quê hương để rồi Cảnh Dương trong mắt của mọi người là hình ảnh một làng biển trù phú và giàu có, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. + Về văn hoá - giáo dục Với nền kinh tế khá phát triển, văn hoá làng Cảnh Dương cũng vì thế nhanh chóng tạo nên được những nét rất riêng.
Cụ thể từ những năm đầu lập làng, dưới thời Lê - Trịnh, nhân dân Cảnh Dương đã đầu tư xây dựng các công trình có quy mô cũng như tổ chức sinh hoạt văn hoá lành mạnh, tạo nên đời sống tinh thần phong phú. Những cứ liệu tại Bổn xã khai khẩn truyện ký đã minh chứng điều đó: 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.