Đặt vấn đề Trong giới thực vật bậc cao ở Việt Nam hiện nay có hơn 5000 loài thực vật dùng để làm thuốc (cây thuốc), trong đó có nhiều cây có giá trị về mặt y học và giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, trải qua thời gian dài khai thác mà không chú trọng bảo vệ nguồn gen nên nguồn dƣợc liệu trong tự nhiên đang bị giảm về số lƣợng và chất lƣợng. Các điều kiện bất lợi của môi trƣờng tự nhiên, sự xói mòn về nguồn gen và nhiều nguyên nhân khác đã dẫn đến nhiều loại dƣợc liệu bị tuyệt chủng, ảnh hƣởng đến nguồn cung cấp dƣợc liệu bền vững cho con ngƣời. Cây Bạch truật (Atractylodes macrocephala Koidz) thuộc họ Cúc đƣợc nhập từ Trung Quốc, cây chủ yếu đƣợc nhân giống bằng hạt, do lƣợng hạt và tỷ lệ nảy mầm cao.
Tuy nhiên, khi đƣợc nhập trồng về Việt nam có thể do những bất lợi về điều kiện thời tiết đối với một số giai đoạn nhất định trong quá trình sinh trƣởng và phát triển nên cây thƣờng bị nhiễm bệnh và hạt lép. Do vậy, việc phát triển trồng trên diện tích lớn gặp khó khăn là do bên cạnh việc nhiễm bệnh, còn do thiếu cây giống. Nhiều khi phải nhập hạt giống từ Trung Quốc về, nhƣng do không đƣợc kiểm định chặt chẽ nên đa số các lô hạt giống đều kém nảy mầm hoặc đã có sẵn nguồn bệnh. Bạch truật sử dụng phần rễ (phần rễ củ) làm một loại dƣợc liệu quý, làm vị thuốc bổ, dùng chữa viêm loét dạ dày, dùng lợi tiểu, chữa ho, bổ ích cƣờng tráng, suy giảm chức năng gan, bổ máu,.Đây cũng là cây dƣợc liệu đƣợc quy hoạch sản xuất theo quyết định số 1976/QĐ-TTg của Thủ tƣớng chính phủ với diện tích tối thiểu phải đạt đƣợc 700ha vào năm 2015.
Nhận thức đƣợc vấn đề bảo tồn và phát triển những loài cây thuốc quý, nhằm làm phong phú thêm nguồn gen cây dƣợc liệu và phát tiển loài dƣợc liệu quý này. Viện Sinh học Nông nghiệp đã thu nhập đƣợc giống Bạch truật “ U tiềm truật” từ Viện nghiên cứu phát triển dƣợc liệu (Trung Quốc), đây là giống Bạch truật tuyển chọn, có năng suất và chất lƣợng tốt; tuy nhiên hạt giống thu nhập vẫn còn ít. Do đó, đã 1 có một số nghiên cứu thực hiện nhân giống cây Bạch truật nhập nội bằng nuôi cấy mô để có thể nhanh chóng có đủ số lƣợng giống cây có chất lƣợng cao làm cơ sở cho sự phổ biến giống Bạch truật mới. Để tiếp tục nghiên cứu chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu tạo cây Bạch truật (Atractylodes macrocephala Koidz) in vitro hoàn chỉnh và đƣa cây ra vƣờn ƣơm” hƣớng tới việc nghiên cứu nhân giống cây bạch truật bằng phƣơng pháp nuôi cấy mô phƣơng pháp hiệu quả để có thể phát triển đƣợc việc trồng trọt sản xuất dƣợc liệu bạch truật ở Việt Nam.
Mục đích Xác định đƣợc môi trƣờng nuôi cấy chồi Bạch truật thích hợp cho tỷ lệ tạo rễ in vitro và sức sống của cây khi đƣa ra điều kiện ex vitro là tốt nhất. Đồng thời, xác định đƣợc chế độ chăm sóc phù hợp để cây con Bạch truật nuôi cấy mô sinh trƣởng và phát triển ở vƣờn ƣơm. Yêu cầu - Xác định đƣợc môi trƣờng tạo rễ cho cây in vitro. - Xác định đƣợc điều kiện thích hợp nhất cho cây sinh trƣởng và phát triển ngoài vƣờn ƣơm.
Ý nghĩa khoa học Đánh giá đƣợc tác dụng của một số CĐHST và các yếu tố khác đối với quá trình phát sinh hình thái của cây để tạo cây Bạch truật in vitro hoàn chỉnh và đƣa cây thích nghi ngoài nhà lƣới. Góp phần bổ sung vào nguồn tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, bảo tồn và nhân giống cây Bạch truật. Ý nghĩa thực tiễn Góp phần xây dựng quy trình tạo cây Bạch truật in vitro hoàn chỉnh giúp bảo tồn và lƣu giữ giống cây có năng suất chất lƣợng tốt; từ đó nhân giống sản xuất mang lại giá trị về kinh tế, có ý nghĩa tích cực trong phòng chống bệnh tật cho cộng đồng. 3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Giới thiệu chung về cây Bạch truật 2. Nguồn gốc, phân bố Bạch truật là cây học tự nhiên ở vùng Ƣ Thế, tỉnh Triết Giang và ở một vài nơi khác ở Trung Quốc. Hiện nay, cây đƣợc trồng ở nhiều địa phƣơng thuộc tỉnh Triết Giang, An Huy, Hồ Nam, Phúc Kiến,. của Trung Quốc, và cũng đƣợc trồng nhiều ở Nhật Bản và Triều Tiên.
Bạch truật là một trong bốn loại thảo mộc quý hiếm, thuốc của y học cổ truyền Trung Quốc. Bạch truật hiện đã di thực vào Việt Nam từ đầu những năm 1960, đƣợc trồng thử ở Bắc Hà và Sa Pa, tỉnh Lào Cai, nay đƣợc đem trồng ở nhiều nơi cả miền núi và đồng bằng (Đỗ Huy Bích và cs, 2004) 2. Phân loại Giới (regnum) : Plantae Ngành (division) : Magnoliophyta Lớp (class) : Magnoliopsida Bộ (ordo) : Asterales Họ (familia) : Asteraceae Chi (genus) : Atractylodes Loài (species) : Macrocephala Tên khoa học: Atractylodes macrocephala Koidz 2. Đặc điểm thực vật Bạch truật thuộc loại thân thảo, sống lâu năm, có thân rễ to, mọc dƣới đất.
Thân thẳng, cao 0,3 – 0,8m, đơn độc hoặc phân nhánh ở bộ phận trên, phần dƣới thân hóa gỗ. Thân rễ to, hình chùy có nhiều mấu phình ra, mặt ngoài có màu nâu nhạt hoặc xám, có nhiều nếp nhăn, mùi đặc trƣng. Lá mọc cách, dai. Lá ở phần dƣới của thân có cuống dài, phần trên có cuống ngắn, gốc lá rộng, bọc lấy thân.
Phiến lá xẻ sâu thành 3 thùy, thùy giữa rất lớn, hình trứng tròn, hai đầu nhọn, hai thùy bên nhỏ hơn, hình trứng mũi mác, phần gốc không đối xứng. Các lá ở gần 4 ngọn thân có phiến nguyên, hình thuôn hoặc hình trứng mũi mác, mép có răng cƣa. Đầu lớn, phần dƣới có một lá bắc hình lá xẻ sâu, hình lông chim. Tổng bao hình chuông, có lá bắc mỏng xếp thành 7 hàng.
Lá bắc dƣới nhỏ hình trứng tam giác, to dần ở phía trên. Tràng hình ống, phần dƣới màu trắng, phần trên màu đỏ tím, xẻ làm 5 thùy hình mũi mác, xoắn ra ngoài. 5 nhị hàn liền nhau (có nhị bị thoái hóa), chỉ nhị hình sợi dẹp. Bầu thôn mặt ngoài có lông nhung, màu nâu nhạt, đoạn trên có lông hình lông chim.
Vòi hình chỉ màu tím nhạt đầu nhị xẻ thành 2 thùy nông hình đầu, mặt ngoài có lông ngắn. Quả bế hình bầu dục hoặc hình cầu, thuôn, dẹp, màu xám có chùm lông màu xám, kích thƣớc quả bé. Mùa hoa quả: tháng 8-11 (Viện dƣợc liệu, 2006) Hình 2. Cây Bạch truật ngoài điều kiện tự nhiên 2.
Điều kiện sinh thái Bạch truật ƣa khí hậu mát lạnh quanh năm, thích hợp ở độ cao 1000- 1500m so với mực nƣớc biển, nhiệt độ trung bình năm là 15-18°C, lƣợng mƣa từ 1800- 2000mm, độ ẩm không khí 70- 80%. Cây thích hợp đất pha cát, nhiều mùn, thoát nƣớc (Đỗ Huy Bích, 1998) 5 2. Bộ phận dùng làm thuốc Bộ phận đƣợc sử dụng là phần thân rễ cứng chắc, có dầu thơm nhẹ, ruột màu trắng ngà; củ có nhiều dầu là tốt. Theo đông y, Bạch truật có vị đắng, tính ấm, không độc, có tác dụng, trừ thấp, ích táo, ích khí, chữa đau đầu, tiêu đàm,.
Mô tả dƣợc liệu Dƣợc liệu bạch truật có thân rễ to, thể chất cứng rắn, hình chùy có nhiều mấu phình ra, dài 5-10 cm, đƣờng kính 2-5 cm. Mặt ngoài màu nâu nhạt hoặc xám, có nhiều mấu, vân hình hoa cúc, có nhiều nếp nhăn dọc. Khó bẻ gãy, mặt cắt không phẳng, có màu vàng đến nâu nhạt, các khoang chứa tinh dầu màu nâu nhạt nằm rải rác, có mùi đặc trƣng. Thành phần hóa học Trong Bạch truật có: Humulene, b-Elemol, a-Curcumene, Atractylone, 3b Acetoxyatractylone, Selian 4(14), 7 (11)-Diene-8-One, Eudesmo, Palmitic acid (Trần Kiến Dân - Thực vật Học Báo 1991, 33 (2): 164).
Theo Phó Mạc Tuấn (1981) đã tìm ra thì trong thân rễ bạch truật có chứa Hinesol, b-Selinene Theo Gia Hiệp Thiên Dân (1943) đã phát hiện ra trong thân rễ bạch truật có chứa 8b-Ethoxyatractylenolide II, 14-Acetyl-12-Senecioy-12E, 8Z, 10E- Atractylentriol, 14-Acetyl-12-Senecioyl-2E, 8E, 10E-Atractylentriol,12-Senecioyl- 2E-8Z, 10E-Atractylentriol, 12-Senecioyl-2E-8E-10E-Atractylentriol (Dƣợc học tạp chí Nhật Bản, 1943). Trong rễ củ Bạch truật có 1,4% tinh dầu. Thành phần tinh dầu gồm: Atractylon (C16H180), Atractylola (CH160) Atractylenolid I, II, III, Eudesmol và Vitamin A. Ngoài ra còn có glycosid, inulin và muối kali atractylat (Lã Đình Mỡi, 2002).
6 Từ phân đoạn át dầu của Bạch truật ngƣời ta tách đƣợc Juniper camphor (Chinese Drugs of Plant origin,1992) 2. Công dụng Tác dụng bổ ích cƣờng tráng: trên thực nghiệm thuốc có tác dụng làm tăng trọng chuột, tăng sức bơi lội, tăng khả năng thực bào của hệ thống tế bào lƣới, tăng cƣờng chức năng miễn dịch của tế bào, làm tăng cao IgG trong huyết thanh, có tác dụng tăng bạch cầu và bảo vệ gan. Tăng sự tổng hợp protein ở ruột non. Tác dụng chống loét: chống loét dạ dày: trong ba loại loét (loét Shay, loét do bỏ đói và loét do tiêm histamin), bạch truật có tác dụng ức chế rõ rệt đối với loét Shay và loét do nhịn đói, không tác dụng đối với loét do hastamin.
Bạch truật có tác dụng làm giảm rõ rệt lƣợng dịch vị tiết ra và không làm giảm độ acid tự do của dịch vị (Đỗ Huy Bích, 1998). Tác dụng đối với ruột: đối với ruột thỏ cô lập, lúc ruột ở trạng thái hƣng phấn thì thuốc có tác dụng ức chế, ngƣợc lại lúc ruột đang ở trong trạng thái ức chế thì thuốc có tác dụng hƣng phấn. Tác dụng điều tiết hai chiều đó của thuốc có liên quan đến hệ thống thần kinh thực vật, do đó bạch truật có thể chữa đƣợc táo bón và tiêu chảy. Tác dụng đối với máu: nƣớc sắc và dịch triết cồn bạch truật đều có tác dụng chống đông máu, dãn mạch máu.
Glucozid kali atractylat triết từ bạch truật có tác dụng chọn lọc trên đƣờng huyết, đầu tiên gây tăng, sau đó gây hạ đƣờng huyết đến mức co giật do hạ đƣờng huyết. Lƣợng glycogen trong gan chuột nhắt giảm đáng kể, nhƣng lƣợng glycogen trong tim hơi tăng, dƣới tác dụng của glycozid này, nghĩa là trong gan và máu đều có đƣờng nhƣng chỉ có tác dụng đối với đƣờng trong máu. Tác dụng lợi niệu (tác dụng đối với thận): bạch truật có tác dụng lợi niệu rõ và kéo dài, có thể do thuốc có tác dụng ức chế tiểu quản thận tái hấp thu nƣớc, tăng bài tiết natri,. nhƣng cũng có báo cáo kết quả chƣa thống nhất.
Bạch 7 truật không ảnh hƣởng đối với thành phần các protein huyết thanh và chức năng bài tiết ure của thận (Đỗ Huy Bích, 1998).