CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái quát chung về vốn trong công ty cổ phần 1.1 Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần Nếu như CTCP ra đời và phát triển ở các nước tư bản khá sớm thì ở Việt Nam lại xuất hiện rất muộn. Từ năm 1986 trở về trước, Việt Nam phát triển kinh tế theo hướng kinh tế quản lý tập trung nên không tồn tại công ty cũng như luật công ty. Tại Đại hội Đảng khóa VI năm 1986, khi Đảng và Nhà nước quyết định chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần sở hữu thì công ty mới được công nhận là hình thức pháp lý để tiến hành hoạt động kinh doanh.
Đến năm 1990, Việt Nam mới có đạo luật chính thức quy định về công ty, đó là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990. Những quy định của pháp luật về công ty nói chung và CTCP nói riêng đã không ngừng được hoàn thiện để đáp ứng điều kiện của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới. Từ Luật Công ty năm 1990 đến Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 và mới đây nhất là Luật Doanh nghiệp năm 2020. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành của Việt Nam không đưa ra định nghĩa cụ thể về CTCP mà chỉ đưa ra dấu hiệu nhận biết loại hình công ty này.
Cụ thể, Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về Công ty cổ phần: “Điều 111. Công ty cổ phần 1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty.” Theo đó, có thể đưa ra khái niệm về CTCP như sau: CTCP là doanh nghiệp, là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn tức là sự liên kết giữa các cổ đông dựa trên nhu cầu về vốn, không bị ràng buộc về mặt nhân thân như đối với loại hình công ty đối nhân. Vốn của CTCP được chia thành nhiều phần bừng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; được hưởng lợi nhuận từ cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp. Trong khái niệm trên ta thấy Luật Doanh nghiệp định nghĩa: “công ty cổ phần là doanh nghiệp”.
Vậy CTCP trước hết phải là doanh nghiệp, tức là mang nghững đặc điểm chung của doanh nghiệp. Theo Khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 thì: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. CTCP có những đặc điểm, dựa vào đó để phân biệt với công ty TNHH và công ty hợp danh. Những đặc điểm cơ bản của CTCP gồm có: Thứ nhất, về tính chất khi thành lập, CTCP là loại công ty đối vốn.
Điều đó có nghĩa là khi thành lập công ty chủ yếu quan tâm đến vốn góp, còn việc ai góp vốn không quan trọng. Vì vậy, CTCP có cấu trúc vốn mở. Thứ hai, vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu.
Một cổ phiếu có thể phản ánh một hay nhiều cổ phần. Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông vào công ty được thực hiện bằng cáchh mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần. Pháp luật hoặc Điều lệ công ty có thể giới hạn tối đa số cổ phần mà một cổ đông có thể mua nhằm chống lại việc một cổ đông nào đó có thể nắm quyền kiểm soát công ty do có nhiều vốn góp (ví dụ hạn chế nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các công ty trong nước). Luật Doanh nghiệp không quy định vốn điều lệ của công ty phải chia thành bao nhiêu phần, mỗi phần có giá trị bao nhiêu.
Tuy nhiên, Luật Chứng khoán của Việt Nam quy định mệnh giá cổ phiếu chào bán lần đầu ra công chúng là mười nghìn đồng Việt Nam. Như vậy, CTCP nào muốn chào bán cổ phiếu ra công chúng thì trước đó phải thực hiện việc quy mệnh giá cổ phần về mười nghìn đồng Việt Nam. Điều đó dẫn đến hệ quả là trên thực tế các CTCP đều xác định mệnh giá cổ phần là mười nghìn đồng Việt Nam để đảm bảo tính thanh khoản. Từ đặc điểm này, có thể khẳng định việc chia vốn của công ty thành các cổ phần là vấn đề căn bản nhất của hình thức công ty này.
Thứ ba, về thành viên công ty. Là loại hình công ty đối vốn nên theo truyền thống pháp luật về công ty của các quốc gia trên thế giới, việc quy định số thành viên tối thiểu phải có khi thành lập cũng như trong suốt quá trình hoạt động đã trở thành thông lệ quốc tế trong suốt mấy trăm năm tồn tại của CTCP. Pháp luật chỉ quy định số thành viên tối thiểu mà không giới hạn số thành viên tối đa. Trong Luật Doanh nghiệp 2014 hay cũng như trong Luật Doanh nghiệp mới nhất 2020 quy định số thành viên tối thiểu trong công ty cổ phần là 03 cổ đông, có thể là tổ chức, cá nhân.
Cùng với sự phát triển kinh tế, pháp luật về công ty cổ phần cũng có sự thay đổi một số nước thừa nhận CTCP có một cổ đông cũng như thừa nhận công ty TNHH một thành viên. Thứ tư, tính tự do chuyển nhượng cổ phần vốn góp cũng là đặc điểm chỉ có ở công ty cổ phần (do bản chất đối vốn). Phần vốn góp (cổ phần) được thể hiện bằng hình thức cổ phiếu. Cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành là một loại hàng hóa.
Người có cổ phiếu được tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Việc chuyển nhượng được thực hiện theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán. Thứ năm, về tính chịu trách nhiệm trong kinh doanh CTCP chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty. Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Thứ sáu, về huy động vốn, trong quá trình hoạt động CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại, có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. Thứ bảy, CTCP có tư cách pháp nhân vì vậy công ty cũng có tư cách thương nhân (thương nhân bởi hình thức). Các cổ đông hay những người quản trị công ty đều không có tư cách thương nhân. Những người có quyền giao dịch với bên ngoài là những người đại diện cho CTCP có cơ cấu tổ chức rất chặt chẽ do những đặc điểm như đã trình bày đòi hỏi phải có cơ cấu quản trị chuyên nghiệp tách bạch với sở hữu.2 Khái niệm và đặc điểm về vốn trong công ty cổ phần Nước ta đã và đang ngày càng phát triển về kinh tế cũng như mọi mặt đời sống - xã hội đi cùng với đó sự ra đời của hàng loạt các công ty.
Để một công ty có thể thành lập và vận hành thì không thể nào thiếu được vốn. Khái niệm về “vốn” trong từ điển tiếng Việt được giải thích là “Tiền bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất, kinh doanh nhằm sinh lợi”. Dưới góc độ là một phạm trù kinh tế, vốn là một điều kiện tiên quyết quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh. Vốn là căn cứ để xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo mục tiêu đã định.
Trong các doanh nghiệp kinh doanh, vốn sản xuất là những tài sản được sử dụng làm phương tiện trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ, bao gồm vốn cố định và vốn lưu động. Ngoài vốn sản xuất còn có nhiều khái niệm về vốn kinh doanh, tuy nhiên khái niệm được nhiều người ủng hộ là: Vốn kinh doanh là số vốn được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, số vốn này được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp (do chủ sở hữu đóng góp ban đầu) và bổ sung thêm trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Dưới góc độ pháp lý, vốn của doanh nghiệp được tiếp cận dưới góc độ “vốn điều lệ”. Trước đây, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về vốn trong công ty cổ phần như sau: “Vốn điều lệ công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại.
Vốn điều lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty. Trong khoản 1 Điều 112 Luật Doanh nghiệp 2020 mới đây quy định về vốn trong công ty cổ phần như sau: “Vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng mệnh giá cổ phần các loại đã bán. Vốn điều lệ của công ty cổ phần khi đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.” Nhìn chung quy định về vốn trong hai bộ này không có quá nhiều sự khác biệt khi chỉ có vị trí hai điều luật khác nhau. Với các quy định trên, vốn điều lệ công ty cổ phần được kéo về là vốn “thực” - theo đó, vốn điều lệ là giá trị mệnh giá cổ phần đã có người mua và thanh toán cho công ty.