Luận văn thạc sĩ về pháp luật điều chỉnh hoạt động thâu tóm thù địch doanh nghiệp tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích pháp luật điều chỉnh hoạt động thâu tóm thù địch doanh nghiệp tại Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc và giải pháp.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2016

90
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG THÂU TÓM THÙ ĐỊCH DOANH NGHIỆP

1.1. M&A và hoạt động thâu tóm doanh nghiệp

1.2. Thâu tóm thân thiện và thâu tóm thù địch

1.3. Phương pháp thâu tóm

1.4. Thâu tóm bằng cách lôi kéo cổ đông bất mãn

1.5. Thu mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán

1.6. Chào mua công khai

1.7. Động cơ của hoạt động thâu tóm thù địch

1.8. Giảm thiểu đối thủ cạnh tranh

1.9. Giảm thiểu chi phí, nâng cao hiệu quả

1.10. Giảm chi phí gia nhập thị trường

1.11. Biện pháp tự vệ (Takeover defences)

1.12. Các biện pháp phòng ngừa thâu tóm

1.13. Các biện pháp chống thâu tóm

1.14. Trách nhiệm của người quản lý công ty

1.15. Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động thâu tóm thù địch

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THÂU TÓM THÙ ĐỊCH DOANH NGHIỆP TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA PHÁT TRIỂN VÀ VIỆT NAM

2.1. Pháp luật điều chỉnh hoạt động thâu tóm thù địch doanh nghiệp tại Anh

2.2. Hội đồng về Thâu tóm và Sáp nhập và Bộ quy tắc về Thâu tóm và Sáp nhập

2.3. Quy định bảo vệ cổ đông công ty mục tiêu

2.4. Trách nhiệm của người quản lý công ty và việc áp dụng các biện pháp tự vệ

2.5. Pháp luật điều chỉnh hoạt động thâu tóm thù địch doanh nghiệp tại Mỹ

2.6. Pháp luật điều chỉnh hoạt động thâu tóm thù địch doanh nghiệp của liên bang

2.7. Pháp luật điều chỉnh hoạt động thâu tóm thù địch doanh nghiệp của tiểu bang

2.8. Pháp luật điều chỉnh hoạt động thâu tóm thù địch doanh nghiệp tại Việt Nam

2.9. Thực trạng hoạt động thâu tóm thù địch doanh nghiệp tại Việt Nam

2.10. Đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động thâu tóm thù địch doanh nghiệp tại Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THÂU TÓM THÙ ĐỊCH DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

3.1. Các giải pháp chung

3.2. Xây dựng cơ chế đối trọng điều chỉnh hoạt động thâu tóm thù địch

3.3. Xây dựng khung pháp lý thống nhất điều chỉnh hoạt động thâu tóm thù địch

3.4. Các đề xuất cụ thể

3.5. Hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ cổ đông

3.6. Hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm của người quản lý công ty và việc áp dụng các biện pháp tự vệ

3.7. Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế

3.8. Hoàn thiện pháp luật về quản lý đầu tư nước ngoài và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu pháp luật thâu tóm thù địch doanh nghiệp tại Việt Nam

Nghiên cứu pháp luật về thâu tóm thù địch doanh nghiệp tại Việt Nam đang trở thành một chủ đề nóng trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển. Hoạt động thâu tóm không chỉ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế. Việc hiểu rõ các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động này là rất cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

1.1. Khái niệm và phân loại thâu tóm doanh nghiệp

Thâu tóm doanh nghiệp có thể được phân loại thành hai loại chính: thâu tóm thân thiện và thâu tóm thù địch. Thâu tóm thân thiện diễn ra khi có sự đồng thuận từ ban lãnh đạo công ty mục tiêu, trong khi thâu tóm thù địch xảy ra khi ban lãnh đạo không đồng ý với đề nghị thâu tóm.

1.2. Tình hình thâu tóm doanh nghiệp tại Việt Nam

Tại Việt Nam, hoạt động thâu tóm doanh nghiệp đang ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, khung pháp lý hiện tại vẫn còn nhiều bất cập, cần được hoàn thiện để đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan.

II. Vấn đề và thách thức trong pháp luật thâu tóm thù địch doanh nghiệp

Mặc dù có nhiều quy định pháp luật liên quan đến thâu tóm thù địch, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức trong việc áp dụng. Các quy định hiện hành chưa đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số và các bên liên quan khác.

2.1. Những bất cập trong quy định pháp luật hiện hành

Các quy định pháp luật hiện tại về thâu tóm thù địch còn rải rác và thiếu tính đồng bộ. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc thực thi và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

2.2. Tác động của thâu tóm thù địch đến thị trường

Hoạt động thâu tóm thù địch có thể gây ra những tác động tiêu cực đến thị trường, như làm giảm niềm tin của nhà đầu tư và ảnh hưởng đến sự ổn định của các doanh nghiệp. Cần có các biện pháp để giảm thiểu những tác động này.

III. Phương pháp và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thâu tóm thù địch

Để hoàn thiện pháp luật về thâu tóm thù địch, cần áp dụng các phương pháp và giải pháp cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Việc xây dựng một khung pháp lý thống nhất và rõ ràng là rất cần thiết.

3.1. Xây dựng khung pháp lý thống nhất

Cần thiết phải xây dựng một khung pháp lý thống nhất để điều chỉnh hoạt động thâu tóm thù địch, nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong các giao dịch.

3.2. Đề xuất các biện pháp bảo vệ cổ đông thiểu số

Các biện pháp bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số cần được đưa vào quy định pháp luật, nhằm đảm bảo rằng họ không bị thiệt thòi trong các thương vụ thâu tóm.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về thâu tóm thù địch

Nghiên cứu về thâu tóm thù địch không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn cần được áp dụng vào thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu sẽ giúp cải thiện khung pháp lý và quy định hiện hành.

4.1. Các trường hợp thâu tóm thù địch điển hình tại Việt Nam

Một số trường hợp thâu tóm thù địch điển hình tại Việt Nam đã cho thấy những vấn đề pháp lý cần được giải quyết. Các vụ việc này cần được phân tích để rút ra bài học cho các thương vụ sau này.

4.2. Kết quả nghiên cứu và khuyến nghị

Kết quả nghiên cứu cho thấy cần có sự điều chỉnh mạnh mẽ trong quy định pháp luật về thâu tóm thù địch, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và thúc đẩy sự phát triển của thị trường.

V. Kết luận và tương lai của pháp luật thâu tóm thù địch tại Việt Nam

Kết luận về nghiên cứu pháp luật thâu tóm thù địch doanh nghiệp tại Việt Nam cho thấy rằng cần có những bước đi cụ thể để hoàn thiện khung pháp lý. Tương lai của hoạt động này sẽ phụ thuộc vào sự điều chỉnh và cải cách pháp luật.

5.1. Tương lai của thâu tóm thù địch tại Việt Nam

Trong tương lai, hoạt động thâu tóm thù địch có thể sẽ trở nên phổ biến hơn, đòi hỏi một khung pháp lý chặt chẽ hơn để bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

5.2. Khuyến nghị cho các nhà lập pháp

Các nhà lập pháp cần xem xét và điều chỉnh các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo rằng hoạt động thâu tóm thù địch diễn ra một cách công bằng và minh bạch.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh pháp luật điều chỉnh hoạt động thâu tóm thù địch doanh nghiệp tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG THÂU TÓM THÙ ĐỊCH DOANH NGHIỆP 1. M&A và hoạt động thâu tóm doanh nghiệp M&A là thuật ngữ phổ biến tại Việt Nam. Theo cách hiểu thông thường nhất, phần lớn mọi người hiểu M&A là mua lại và sáp nhập dựa trên nghĩa tiếng Anh đầy đủ của M&A là: Mergers and Acquisition, mà không cần bất kỳ sự diễn giải nào. Thực tế, theo đánh giá của các chuyên gia, việc dịch thuật ngữ M&A theo nghĩa tiếng Anh như vậy là chưa thật sự chính xác và đầy đủ.6 Trên thực tế, vẫn chưa có bất kỳ khái niệm pháp lý chính thức nào về hoạt động M&A.

Phần lớn chỉ khái niệm một số hình thức chủ yếu của hoạt động M&A như sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp dưới góc độ tài chính. Tại Hoa Kỳ, theo pháp luật liên bang, sáp nhập có nghĩa là sự kết hợp giữa hai công ty mà một bên hoàn toàn bị thâu tóm bởi công ty kia. Công ty kém quan trọng hơn sẽ mất đi đặc điểm nhận diện của mình và trở thành một phần của công ty quan trọng hơn nơi vẫn giữ được đặc điểm nhận diện của mình. Khác với hoạt động sáp nhập, hoạt động hợp nhất làm cho hai công ty cùng bị mất đi những đặc điểm nhận dạng của mình và tạo nên một hình thức công ty hoàn toàn mới.

Còn đối với hoạt động mua bán doanh nghiệp, pháp luật không đưa ra định nghĩa cụ thể mà chỉ quy định các hình thức thực hiện như mua tài sản của CTMT; mua lại phần vốn góp của các cổ đông CTMT; thay đổi cấu trúc vốn của công ty và tái cơ cấu công ty.7 Còn theo pháp luâ ̣t chung của Liên minh Châu Âu thì sáp nhập và mua lại doanh nghiệp là: (i) sự sáp nhập giữa hai pháp nhân độc lập hoặc hai bộ phận của hai pháp nhân; hoặc (ii) thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua 6 Xem: Lưu Minh Đức (2008), “Thâu tóm và hợp nhất nhìn từ khía cạnh quản trị công ty: Lý luận, Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam”, Tạp chí Quản lý kinh tế, năm 2008, số 15-7+8, tr. 7 Xem: Trần Thị Bảo Ánh (2014), Pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 việc mua lại chứng khoán hoặc tài sản của một công ty khác; (iii) hoặc tạo ra một liên doanh mới.8 Đế n thời điể m tháng 10/2016, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có bất kỳ định nghĩa pháp lý chính thức nào về hoạt động M&A. Tuy nhiên, các hình thức của hoạt động M&A đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Cạnh tranh năm 2004, cụ thể: + Khái niệm về hoạt động sáp nhập doanh nghiệp được quy định tại Khoản 1 Điều 195 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng đưa ra định nghĩa tương tự tại Khoản 1 Điều 17. + Khái niệm về hoạt động hợp nhất doanh nghiệp được quy định tại Khoản 1 Điều 194 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Đối với hoạt động này, Luật Cạnh tranh năm 2004 đưa ra định nghĩa chi tiết hơn tại Khoản 2 Điều 17. Luật Doanh nghiệp năm 2014 không đưa ra bất kỳ khái niệm nào liên quan đến mua bán doanh nghiệp.

Việc bán doanh nghiệp chỉ được nhắc đến một lần duy nhất ở điều khoản về bán doanh nghiệp tư nhân (Điều 187 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Trong khi đó, Luật Cạnh tranh năm 2004 lại đưa ra định nghĩa về “mua lại doanh nghiệp” (Khoản 3 Điều 17). Mặc dù đưa ra các định nghĩa về các hình thức M&A, nhưng Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Cạnh tranh năm 2004 tiếp cận và điều chỉnh các hoạt động theo hướng hoàn toàn khác nhau. Đối với Luật Doanh nghiệp năm 2014, các hình thức M&A được xem là các hoạt động tổ chức lại doanh nghiệp.

Trong khi đó, Luật Cạnh tranh năm 2004 lại xem đây là các hoạt động nhằm TTKT. Dù hình thức M&A được định nghĩa và tiếp cận khác nhau dưới các góc độ khác nhau nhưng đều dẫn đến một hệ quả: đó là khả năng kiểm soát, chi phối hoạt động kinh doanh của CTMT. Và nếu chỉ tiếp cận dựa trên hệ quả này thì tất cả các hình thức M&A đều có thể được gọi với một tên chung, đó là hoạt động “thâu tóm doanh nghiệp” (takeover). Cũng giống như M&A, hoạt động thâu tóm doanh nghiệp 8 Xem: “Quy định về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu số 139/2004 ngày 20/01/2004 (EC Merger Regulation)”, <http://eur-lex.eu/legal-content/en/ALL/?uri=CELEX%3A32004R0139> [Ngày truy cập: 12/09/2016].

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 không có một định nghĩa chính thức. Theo cách hiểu thông thường, thâu tóm doanh nghiệp chính là hoạt động sáp nhập hoặc mua lại một công ty. Trong một số công trình nghiên cứu, thâu tóm được định nghĩa là hoạt động mua lại hay mua bán doanh nghiệp (acquisition).9 Trong Luận văn này, thuật ngữ “thâu tóm” được định nghĩa là hành vi của một công ty tìm cách kiểm soát, chi phối một công ty khác thông qua việc thu mua toàn bộ hoặc một tỷ lệ cổ phiếu hoặc tài sản nhất định của CTMT để có thể khống chế toàn bộ các quyết định của công ty đó mà không quan tâm đến việc hình thức M&A cụ thể nào đã được sử dụng. Cách tiếp cận này là phù hợp với pháp luật của các quốc gia trên thế giới khi mà nhà làm luật chủ yếu quan tâm đến hệ quả của hoạt động M&A (quyền chi phối, kiểm soát của CTTT đối với CTMT) hơn là xem xét nó là hành vi sáp nhập, mua lại hay hợp nhất.

Thâu tóm thân thiện và thâu tóm thù địch Hoạt động thâu tóm là thân thiện hay thù địch được phân biệt chủ yếu dựa vào việc hoạt động này có trái với mong muốn của NQLCT bị thâu tóm hay không. Theo đó, việc thâu tóm công ty bằng cách đưa ra đề nghị thâu tóm trực tiếp đối với các cổ đông mà không xem xét, cân nhắc ý kiến của NQLCT bị thâu tóm thì được xem là TTTĐ (hostile takeover). Ngược lại, một đề nghị thâu tóm được ban quản lý CTMT chào đón, hoan nghênh thì được xem là thâu tóm thân thiện (friendly takeover).10 Hoạt động TTTĐ có thể được nhận dạng thông qua các đặc điểm sau: (i) Một công ty (CTTT) thực hiện các phương pháp nhất định (luật định hoặc pháp luật không cấm) để có được quyền sở hữu đủ số lượng cổ phiếu cần thiết, qua đó có thể kiểm soát công ty khác (công ty bị thâu tóm). (ii) Động cơ thực hiện hoạt động TTTĐ có thể khác nhau, nhưng luôn luôn nhắm đến lợi ích tài chính có được thông qua việc thay thế người quản lý (bị cho là) yếu kém của công ty bị thâu tóm để tạo ra lợi nhuận lớn hơn trong tương lai, hoặc 9 Xem: Trần Văn Khanh (2009), Merger and acquisition a comparative study on Vietnam and the United Kingdom legal regulation, Master’s Thesis in Law, Falcuty of Law Lund University, p.

10 Xem: Xiaofan Wang (2013), Takeover law in the UK, US and China: a comparative analysis and recommendations for Chinese takeover law reform, Degree of Doctor of Philosophy, Salford Law School, p. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 đơn giản chỉ nhằm hạ bệ một công ty cạnh tranh, bán các tài sản có giá trị để thu lợi nhuận và giảm bớt áp lực cạnh tranh. (iii) Hoạt động TTTĐ mang đến cho CTTT cơ hội để tiếp cận trực tiếp các cổ đông của CTMT mà không cần phải đàm phán với người quản lý của CTMT. Như vậy, người quản lý CTMT có thể không nhận biết được thương vụ thâu tóm (ít nhất là trong giai đoạn đầu) hoặc thương vụ thâu tóm chống lại ý chí, mong muốn của họ khi nhận được đề nghị thâu tóm.

(iv) TTTĐ làm cho CTTT mất nhiều chi phí hơn so với thâu tóm thân thiện do CTTT có thể phải bỏ ra một số tiền lớn hơn để mua đủ số lượng cổ phiếu cần thiết từ các cổ đông riêng lẻ của CTMT và mất các chi phí khác cho các thủ tục pháp lý, biện pháp cần thiết chống lại các hành vi tự vệ của công ty bị thâu tóm để hoàn thành việc thâu tóm. Người quản lý của công ty bị thâu tóm có thể áp dụng các biện pháp tự vệ (sẽ được trình bày bên dưới) nhằm chống lại hành vi TTTĐ của CTTT. Các biện pháp tự vệ này rất đa dạng và có thể đẩy lùi hành vi thâu tóm nếu được áp dụng phù hợp. Mặc dù TTTĐ có những đặc điểm nhất định mang tính đặc thù nhưng sự phân biệt giữa TTTĐ và thâu tóm thân thiện trên thực tế lại không rõ ràng như việc sử dụng thuật ngữ.11 Nhiều giao dịch thâu tóm tưởng chừng là thân thiện nhưng lại có thể có các yếu tố thù địch vì quyết định của người quản lý về việc có nên xem xét giao dịch thâu tóm này hay không có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố; ví dụ, một giao dịch thâu tóm thân thiện có thể được tiến hành dưới sự đe dọa của CTTT về việc sẽ tiến hành TTTĐ nếu CTMT không chấp nhận đề nghị này.12 Tương tự như vậy, một thương vụ thâu tóm lúc bắt đầu mang tính thù địch nhưng có thể hoàn tất một cách thân thiện.

11 Xem: Xiaofan Wang (2013), Takeover law in the UK, US and China: a comparative analysis and recommendations for Chinese takeover law reform, Degree of Doctor of Philosophy, Salford Law School, p. 12 Lúc bắt đầu, CTTT có thể nhắm đến người quản lý của CTMT. Nếu bị người quản lý của CTMT từ chối, CTTT có thể đe dọa rằng đề nghị thâu tóm sẽ được gửi trực tiếp cho các cổ đông của CTMT. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Phương pháp thâu tóm 1. Thâu tóm bằng cách lôi kéo cổ đông bất mãn Ở các công ty niêm yết quy mô lớn, số lượng cổ đông rất nhiều và mỗi cổ đông, nhóm cổ đông đều có những lợi ích riêng, thường đối lập nhau. Tâm lý bất mãn của một số hoặc một nhóm cổ đông đối với NQLCT đương nhiệm là một thực tế không thể phủ nhận đặc biệt khi công ty lâm vào hoàn cảnh khó khăn về tài chính. Điều này trở thành một cơ hội tốt để công ty khác thực hiện ý đồ thâu tóm.

Như đã trình bày ở trên, TTTĐ diễn ra khi CTTT đưa ra đề nghị thâu tóm trực tiếp đối với các cổ đông mà không xem xét, cân nhắc ý kiến của NQLCT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ