CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình 1. Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình 1. Khái niệm bạo lực gia đình Bạo lực gia đình được xác định là một trong những vấn đề lớn cần tập trung giải quyết nhằm đảm bảo thực thi toàn diện về quyền con người.
Bạo lực gia đình không chỉ xảy ra ở những nơi có điều kiện kinh tế thấp, cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu mà nó diễn ra ở mọi nơi từ thành thị tới nông thôn, xảy ra ở mọi gia đình, trong các tầng lớp khác nhau và gây ra những thiệt hại to lớn cả về vật chất và tinh thần cho gia đình và xã hội. Bạo lực gia đình là hiện tượng xã hội phát sinh không bình thường, thể hiện những lệch chuẩn xã hội, phá vỡ môi trường gia đình lành mạnh ấy. Cho tới nay, tùy từng góc độ nghiên cứu, đã có rất nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về bạo lực gia đình. - Từ góc độ giới: Theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA): “Bạo lực trên cơ sở giới là bạo lực giữa nam giới và phụ nữ, trong đó phụ nữ là nạn nhân và điều này bắt nguồn từ các mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ.
Bạo lực thường nhằm vào phụ nữ, hoặc ảnh hưởng lớn đến phụ nữ. Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm những tổn hại về thân thể, tâm lý, tình dục (bao gồm cả sự đe dọa gây đau khổ, cưỡng bức hoặc tước đoạt sự tự do xảy ra trong gia đình hoặc trong cộng đồng) nhưng nó không bị hạn chế ở những dạng này”[33]. Theo tinh thần của Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì bạo lực gia đình còn được hiểu là “sự phân biệt đối xử về giới, đó là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” [29]. 6 Như vậy, nhìn từ góc độ giới có thể hiểu: bạo lực gia đình là bất kỳ hành vi nào của các thành viên gia đình đối với nhau trên cơ sở giới tính, được biểu hiện dưới những hình thức nhất định, có khả năng gây ra hoặc đe dọa gây ra những tổn hại nhất định về thể chất, tinh thần, kinh tế, tước đoạt hoặc hạn chế quyền tự do của các thành viên khác trong gia đình.
-Từ góc độ xã hội: Đối với người dân, đại bộ phận người dân chưa có cách hiểu đầy đủ và chính xác về vấn đề này. Đa số người dân cho rằng chỉ những hành vi đánh đập, gây thương tích, dẫn tới kết quả nạn nhân bị tổn thương hay tử vong mới bị coi là bạo lực gia đình, còn những hành vi xâm phạm về tinh thần thì không phải bạo lực. Như vậy, có thể thấy sự nhận thức về bạo lực gia đình còn có nhiều chiều và nhiều hạn chế, từ sự nghiên cứu và phân tích trên có thể hiểu dưới góc độ xã hội: bạo lực gia đình là hành động dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực của một người đối với một người khác có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, gây ra hoặc đe dọa gây ra những tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế cho những người đó. -Từ góc độ pháp luật: Khoản 2, Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của các thành viên trong gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”.
Như vậy, khái niệm bạo lực gia đình có liên quan chặt chẽ đến khái niệm thành viên gia đình, vì bạo lực gia đình là hành vi chỉ xảy ra giữa những người có quan hệ nhất định, cùng là thành viên của một gia đình. Theo Khoản 16, Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột”[26]. Như vây, bạo lực gia đình không chỉ xảy ra 7 giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em ruột với nhau mà còn có thể xảy ra giữa ông bà, cô, dì, chú, bác… là những người có quan hệ họ hàng thân thích mà theo luật đều là thành viên gia đình. Nhìn từ nhiều góc độ khác nhau nên quan điểm về bạo lực gia đình cũng có sự khác nhau, tuy nhiên nó có một điểm chung đó là: bạo lực gia đình là một dạng của bạo lực xã hội, là việc dùng sức mạnh để giải quyết các vấn đề về gia đình.
Sự khác biệt giữa bạo lực gia đình với bạo lực xã hội ở chỗ bạo lực gia đình thường diễn ra giữa những người có cùng quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống. Nhìn chung, cả hai hình thức bạo lực này đều có sự đồng nhất trong nhận thức như về hậu quả, sự xâm hại của hành vi bạo lực tới quyền và lợi ích cá nhân. Bạo lực gia đình trước hết phải là hành vi cố ý, chủ thể thực hiện là thành viên gia đình, hậu quả mang lại đó là gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình. Các hành vi bạo lực gia đình có thể được biểu hiện dưới dạng hành động như hành hạ, ngược đãi, đánh đập… hoặc không hành động như bàng quan, thờ ơ, ghẻ lạnh, bỏ mặc hay “chiến tranh lạnh”.
Các hình thức chủ yếu của bạo lực gia đình: - Bạo lực về thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia đình, làm tổn thương tới sức khỏe, tính mạng của họ. - Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình - Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế của thành viên gia đình (quyền sở hữu tài sản, quyền tự do lao động…) - Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép trong các quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kể cả việc cưỡng ép sinh con. Như vậy, dù được định nghĩa với nhiều cách khác nhau nhưng khi xem xét bạo lực gia đình, ta có thể thấy các đặc điểm: Thứ nhất, bạo lực gia đình là hành vi bạo lực xảy ra giữa các thành viên trong gia đình tức là chủ thể có hành vi bạo lực gia đình (người gây ra bạo lực gia 8 đình) phải là thành viên trong gia đình và nạn nhân của bạo lực gia đình là một trong những thành viên còn lại của gia đình đó. Thứ hai, bạo lực gia đình được thực hiện bởi lỗi cố ý chứ không thể là lỗi vô ý.
Thứ ba, bạo lực gia đình là hành vi gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình. Bạo lực gia đình không phải là vấn đề mang tính địa phương, vùng miền mà là một vấn đề toàn cầu, ở đâu cũng có, từ các nước nghèo, nước đang phát triển cho đến nước giàu có, phát triển mạnh về kinh tế và xã hội. Mọi gia đình thuộc mọi tầng lớp của xã hội đều có thể gặp phải tệ nạn này. Đối tượng của các hành vi bạo lực gia đình có thể là bất kỳ ai trong đó có cả nam giới nhưng thường là những thành viên yếu đuối, dễ bị tổn thương và trong hầu hết các trường hợp là phụ nữ, người già và trẻ em.
Bạo lực gia đình đều ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ, tâm lý, tình cảm của mỗi cá nhân. Đặc biệt đối với trẻ em, bạo lực còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự hình thành nhân cách, hạn chế những cơ hội để trẻ em có một cuộc sống bình thường và nhất là tương lai của các em sau này. Khái niệm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hiến pháp 1946, đã ghi nhận: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1); “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) [14]. Điều 24, Hiến pháp năm 1959 quy định: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.
Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” [15] Trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, pháp luật về gia đình ở Việt Nam đã tiếp thu được những tư tưởng pháp lý tiến bộ của thời đại, khẳng định bảo hộ chế độ hôn nhân và gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ. Điều 1 Luật hôn nhân và gia đình năm 1960 quy định: “ Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chể độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ 9 bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hòa thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ”. Luật quy định rõ địa vị bình đẳng về mọi mặt giữa vợ và chồng trong gia đình: “Trong gia đình, vợ chồng đều bình đẳng về mọi mặt” (Điều 2, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1960).